Sử dụng năng lượng mặt trời: thật tiện lợi

Năng lượng mặt trời (NLMT) là nguồn năng lượng thiên nhiên quý giá và vô tận. Khai thác tối đa nguồn NLMT là một mắt xích quan trọng trong chiến lược của thế giới hiện nay với những định hướng: Phát triển các nguồn năng lượng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế ngày càng tăng. Đồng thời nỗ lực giảm mạnh sự phát thải khí “nhà kính” CO2 nhằm ngăn chặn mối hiểm họa biến đổi khí hậu toàn cầu.
Một “Chương trình thiết bị đun nước nóng năng lượng mặt trời năm 2009” đã được khởi động, do Điện lực Việt Nam (EVN) và Văn phòng Tiết kiệm Năng lượng – Bộ Công Thương đã tổ chức với sự tham dự của đại diện lãnh đạo các cơ quan chức năng Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), các công ty điện lực tham gia chương trình, các nhà cung cấp thiết bị trong cả nước.
Mục tiêu của chương trình này là: Thúc đẩy nghiên cứu, sản xuất, nhập khẩu và sử dụng các thiết bị gia nhiệt nước trong sinh hoạt và dịch vụ bằng năng lượng mặt trời và các dạng năng lượng khác cho các hộ gia đình và các tòa nhà (trung tâm thương mại, nhà chung cư, bệnh viện, trường học, các trụ sở cơ quan Nhà nước); Phổ biến, triển khai mạnh mẽ thiết bị đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời góp phần tiết kiệm điện và bảo vệ môi trường, vận động cộng đồng nâng cao nhận thức, thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, đặc biệt trong những tháng cao điểm nắng nóng, năm 2008 và những tháng đầu năm nay.

EVN đã xây dựng và thực hiện hiệu quả 900 mô hình thí điểm về sử dụng thiết bị đun nước nóng bằng NLMT. Trong đó, Công ty Điện lực 2 thực hiện 200 mô hình, Công ty Điện lực TP. Hồ Chí Minh (300 mô hình), Công ty Điện lực Đồng Nai (200 mô hình) và Công ty TNHH MTV Điện lực Đà Nẵng (200 mô hình).
“Chương trình thiết bị đun nước nóng năng lượng mặt trời năm 2009” sẽ nâng cao nhận thức, thay đổi thói quen sử dụng điện, thúc đẩy các hoạt động sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả, góp phần tích cực bảo vệ môi trường trong toàn xã hội.

Cuộc vận động đó có ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế – xã hội. Trong chiến lược to lớn của toàn thế giới nhằm khai thác, sử dụng các nguồn năng lượng xanh, năng lượng tự nhiên, như mặt trời, gió, thuỷ triều v.v.. Chương trình “đun nước nóng năng lượng mặt trời” đang khởi động là một mắt xích giản đơn nhất, hiệu quả nhất, dễ phổ cập nhất hiện nay. (Vietnamnet)

Than tổ ong: Thủ phạm ô nhiễm khí quyển

Các nhà khoa học Trung Quốc chứng minh: Nếu không đun nấu bằng than tổ ong nữa sẽ giảm được đến 98% tình trạng ô nhiễm khí quyển.
Hàng trăm triệu gia đình ở nông thôn Trung Quốc và một số nước khác vẫn đốt than thô trong những lò nhỏ, hiệu suất thấp để đun nấu và sưởi ấm trong mùa đông.
Các nhà khoa học Trung Quốc vừa đề xuất với Chính phủ nên xem xét để chấm dứt thói quen dùng than tổ ong hoặc than quả bàng làm chất đốt trực tiếp tại hàng trăm triệu hộ gia đình tại nước này.
Họ đề nghị Chính phủ nên ra lệnh thay cách đun nấu và sưởi ấm hiện tại bằng lò cải tiến để giảm hiện tượng gây ô nhiễm trầm trọng cho bầu khí quyển.
Khuyến nghị này bắt nguồn từ một trong những nghiên cứu khoa học đầu tiên chứng minh rằng nếu không đun nấu bằng than tổ ong nữa sẽ giảm được đến 98% tình trạng ô nhiễm khí quyển do những hạt mồ hóng cực nhỏ, rất có hại cho sự hô hấp.
Trong một nghiên cứu mới, Yingjun Chen và các đồng nghiệp cho biết từ lâu họ đã lưu ý Nhà nước rằng nếu dùng than đóng bánh đốt trong các lò cải tiến có thông gió tốt sẽ cắt giảm khí thải nhưng ý kiến của họ hầu như chẳng ai để ý đến.
Bản nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc chỉ ra rằng do sự đốt cháy không hoàn toàn tại các lò truyền thống đã khiến Trung Quốc trở thành một trong những nước có bầu khí quyển ô nhiễm nhất thế giới.
Các nhà khoa học so sánh giữa các lò truyền thống và lò cải tiến dùng hoặc than thô hoặc than có chế biến và chứng minh nếu đốt những viên than chế biến trong lò cải tiến thì sẽ giảm được lượng mồ hóng 98% và các khí thải khác 60%.
Bản nghiên cứu chỉ ra sự thay đổi này (cần sự can thiệp của Nhà nước) sẽ mang lại lợi ích cho môi trường, sức khoẻ cùng với sự ổn định về khí hậu.
Bảo Châu (Theo Sciencedaily.com)

Lò nung gas giảm ô nhiễm tại Bát Tràng

Với ưu điểm giảm tiêu hao nhiên liệu, chi phí sản xuất và tiết kiệm thời gian nung, lò gas đang là lựa chọn của các doanh nghiệp gốm. Tuy nhiên, làng nghề Bát Tràng hiện vẫn còn khoảng 150 lò nung than gây ô nhiễm môi trường cần thay thế.

Năm 2006, Ban quản lý dự án nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Bộ Khoa học và Công nghệ) phối hợp cùng UBND xã Bát Tràng và Hiệp hội gốm sứ Bát Tràng triển khai dự án “Thúc đẩy ứng dụng lò gas nung gốm tiết kiệm năng lượng” tại làng nghề này.

Nhờ ưu điểm giảm tiêu hao nhiên liệu, giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm thời gian nung, tỷ lệ thu hồi sản phẩm cao… nên năm 2007-2008, xã Bát Tràng đã có 40 dự án đầu tư theo công nghệ mới này, trong đó 21 dự án được vay và bảo lãnh vốn vay. Tổng vốn vay đạt gần 10 tỷ đồng và giá trị bảo lãnh vốn vay gần 7 tỷ đồng, lấy từ nguồn của Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam.
Là một trong những người đầu tiên của làng dám bỏ ra cả trăm triệu đồng để lắp đặt lò nung bằng gas vào năm 2000, anh Trần Vũ Chiến, chủ xưởng sản xuất gốm sứ ở Bát Tràng hiểu rất rõ lợi ích của công nghệ mới này.

Theo đó, lò ga đốt 13 tiếng và chờ nguội 13 tiếng là có thể dỡ sản phẩm, trong khi lò hộp đốt than phải mất tới 3-5 ngày, tùy theo từng loại sản phẩm. Do điều chỉnh được nhiệt độ trong lò nên không chỉ màu gốm đẹp hơn mà tỷ lệ thu hồi khi nung gốm bằng gas cũng lên tới trên 90%, trong khi nung bằng than chỉ đạt dưới 70%.

“Lò gas là bước tiến của ngành gốm sứ, giúp đổi mới lò nung của Bát Tràng. Các cụ có câu ‘Ở trần gian, làm âm phủ’ bởi khi đốt lò than thì không chỉnh được nhiệt độ nên người nung chẳng biết sản phẩm làm ra sẽ thế nào. Hơn nữa, trước đây, không chỉ mặt mũi luôn nhem nhuốc, hốc hác mà tôi chắc chắn cũng chẳng có thời gian ngồi nói chuyện bởi mỗi mẻ gốm phải mất 2-3 ngày xếp lò”, anh Chiến nói.

Tuy nhiên, ông chủ trẻ này cũng cho rằng, các nhà khoa học nên sớm đưa công nghệ tự động hóa vào lĩnh vực gốm sứ để giúp người dân nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như lợi ích kinh tế và xã hội. “Tôi muốn phối hợp với các nhà khoa học để nâng cao hơn nữa chất lượng lò nung để nói đến Bát Tràng, người ta không nghĩ đến một làng nghề ô nhiễm”, anh Chiến mong mỏi.
Theo Công ty cổ phần thiết kế và sản xuất gốm sứ Bát Tràng, nhờ ưu điểm giảm tiêu hao nhiên liệu, giảm chi phí sản xuất 30% và tiết kiệm thời gian nung, mỗi năm 41 dự án lò nung gas đã giúp tiết kiệm được khoảng 4.000 – 5.000 tấn dầu và giảm phát thải khoảng 20.000 tấn khí CO2.

Thống kê của UBND xã Bát Tràng cho thấy, hiện vẫn còn khoảng 150 lò than gây ô nhiễm môi trường đang hoạt động. Năm 2008, đã có 20 lò được chuyển sang đốt bằng gas, và địa phương này chủ trương năm 2009-2010 mỗi năm chuyển 50 lò từ đốt than sang chạy bằng gas để hoàn thành mục tiêu xóa bỏ lò than.

Tiến Dũng (VnExpress)

Khói than có thể gây chết người

Mỗi năm Trung tâm chống độc bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) cấp cứu 10 đến 20 bệnh nhân ngộ độc do hít phải khí than. Bên cạnh những ca tử vong, có không ít người không thể trở lại bình thường do não bị ảnh hưởng.
TS Phạm Duệ, Giám đốc Trung tâm chống độc Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) cho biết, than cháy sẽ sản sinh ra chất độc nên nếu đốt ở chỗ thoáng khí sẽ làm loãng nồng độ chất độc còn nếu đốt trong phòng kín, than cháy sẽ đốt hết oxy, nồng độ chất độc tích tụ, gây thiếu máu não và ngộ độc cho người.
Tình trạng nguy kịch của bệnh nhân phụ thuộc vào thời gian não thiếu máu não nhanh hay lâu. “Chúng ta thiết kế nhà rất nguy hiểm, thậm chí cả khách sạn cũng kín mít, không có lỗ thông gió. Do vậy, để tránh bị ngộ độc khí than, quan trọng nhất là bếp phải thoáng. Nếu để khí than tích tụ trong nhà thì không ngộ độc cấp cũng sẽ bị ngộ độc từ từ”, bác sĩ Duệ giải thích.

Chuyên gia này cũng cho biết, mỗi năm Trung tâm chống độc Bệnh viện Bạch Mai cấp cứu 10 đến 20 bệnh nhân ngộ độc do hít phải khí than. Bên cạnh những ca tử vong, cũng có không ít người không thể trở lại bình thường do não bị ảnh hưởng, thậm chí có người còn sống thực vật.
Theo một số khảo sát gần đây, ở nội thành Hà Nội, 70% gia đình sử dụng gas, điện và số còn lại dùng bếp than tổ ong để đun nấu sinh hoạt. Còn ở ngoại thành và các tỉnh khác, tỷ lệ này ngược lại là 30% dùng gas, điện và 70% dùng than củi.

Lâu nay, than tổ ong được sản xuất từ nguyên liệu than cám trộn với bùn đất rồi đem ép thành viên, chưa qua xử lý độc hại. Khi đốt than các khí độc như SO2, CO, CO2, NO2 thoát ra rất nhiều. Khi cháy, lưu huỳnh có trong than tác dụng với O2 sinh ra khí SO2, người hít phải sẽ bị viêm họng, viêm phổi. Còn khí CO sinh ra trong quá trình nhóm than hoặc khi ủ lò sẽ gây độc cho hệ thần kinh.

Sau 13 năm nghiên cứu, anh Hoàng Văn Thương (Hà Nội) đã cho ra đời loại than sạch không sử dụng chất phụ gia là hóa chất, bùn ao mà dùng các loại thực vật để khử độc than nên lượng chất độc hại thải ra môi trường rất thấp.

Anh Thương cho hay, tuy giá thành loại than này khá cao (2.900 đồng/viên, trong khi giá than tổ ong bình thường hiện là 1.700 đồng/viên) nhưng với lợi thế chỉ cần dùng 1/4 tờ báo là có thể đốt cháy, không phải đốt bằng điện như than thường, lại thải ít khí độc hại nên người dân vẫn có thể chấp nhận.

Than sạch Hoàng Thương đã được Trung tâm kỹ thuật 1 (Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng – Bộ Khoa học và Công nghệ) kiểm nghiệm các thành phần chất độc hại và bụi đều ở dưới mức cho phép rất nhiều lần. Cụ thể, SO2 giảm 98%, NO2 giảm 59%, CO giảm 54% so với tiêu chuẩn.

Tiến Dũng (VnExpress)

Tái chế một tấn giấy sẽ tiết kiệm được hơn 4.000 kwh điện, 32m3 nước, cứu được 17 cây xanh

“Một tấn giấy tái chế sẽ giúp ta tiết kiệm được 32 m3 nước, số nước này đủ để dội cho 3000 toilet công cộng”, bà Trần Thị Mỹ Diệu ở trường Đại học Văn Lang, TP HCM, tính toán.

Đưa ra những lý do vì sao cần tái chế giấy tại Hội thảo Quản lý rác bao bì nhựa vá giấy hôm 18/8, bà Diệu cho biết khi tái chế một tấn giấy sẽ tiết kiệm được 4.200 kwh năng lượng điện. Số này đủ dùng cho 1 hộ gia đình có 4 người trong một năm. Đồng thời tái chế một tấn giấy cũng sẽ giúp thành phố giảm khai thác 17 cây xanh, tính về mặt bảo vệ môi trường.

Đồng tình, ông Nguyễn Trọng Nhân thuộc Sở Tài nguyên Môi trường TP HCM cho biết: “Để sản xuất một tấn bột giấy cần đến 5 m3 gỗ và 100 m3 nước. Vì vậy nếu phân loại và tái chế giấy tốt sẽ giúp tài nguyên rừng và nước được bảo vệ lâu dài”.

Theo Viện kỹ thuật nhiệt đới và bảo vệ môi trường TP HCM, trong năm nay, các nhà sản xuất sẽ làm ra hơn 760 nghìn tấn bao bì nhựa và 800 nghìn tấn bao bì giấy. “Trong khi phải mất đến 400 năm tự nhiên mới có thể phân hủy hết loại rác thải nguy hại này”, ông Phạm Hồng Nhật, một chuyên gia trong lĩnh vực này cho hay.

Phát hiện hàng loạt thủ phạm gây ô nhiễm sông Nhuệ

(Dân trí) – Các cuộc kiểm tra khác nhau tại các cơ sở sản xuất dọc theo khu vực sông Nhuệ vừa cho kết quả, 100% vi phạm về bảo vệ môi trường. Thật dễ hiểu khi trước đó, một đại biểu HĐND TP Hà Nội đặt vấn đề, cá dọn bể còn chết, cá nào sống nổi!

Ngày 7/5, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội, Vũ Hồng Khanh đã chủ trì cuộc làm việc với các sở, ngành liên quan về kết quả bước đầu kiểm tra, rà soát các cơ sở sản xuất và khu, cụm công nghiệp đóng trên địa bàn TP Hà Đông và huyện Từ Liêm gây ô nhiễm môi trường sông Nhuệ

Tại buổi làm việc, Đại tá Nguyễn Đức Nghi – Phó Giám đốc Công an TP Hà Nội cho biết, dọc sông Nhuệ tổng cộng có trên 600 cơ sở sản xuất cùng hơn 100 làng nghề và 35 miệng cống lớn xả nước vào dòng sông.

Cá dọn bể chết đồng loạt tại sông Nhuệ cách đây chưa lâu
Xem tiếp tại đây