Hà Nội: Ô nhiễm bụi vượt chuẩn… 11 lần

Sở Tài nguyên – Môi trường cho biết, kết quả quan trắc 6 tháng đầu năm 2009 cho thấy, tại 250 điểm đo kiểm có tới 180 điểm đo (chiếm 72%) có hàm lượng bụi lơ lửng vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP). Cụ thể, đường Nguyễn Trãi có vị trí vượt TCCP tới 11 lần; đường Nguyễn Văn Linh vượt 10,8 lần; ngã ba Tam Trinh – Lĩnh Nam có nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn 5,2 lần; đường Phạm Văn Đồng vượt 3,6 lần; đường 428 – Pháp Vân tại ngã ba Guột có nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn 4,4 lần. Một loạt các “phố bụi” khác như Khuất Duy Tiến, Lê Văn Lương, Kim Giang, Khương Đình có nồng độ bụi cao gấp từ 3,8 đến 6,3 lần so với tiêu chuẩn.

So sánh kết quả quan trắc bụi tại 45 điểm trong 2 năm cho thấy, có những đường phố có hàm lượng bụi cao gấp đôi, thậm chí gấp 5 lần chỉ trong vòng 1 năm. Cụ thể như đường Hoàng Quốc Việt năm 2007 nồng độ bụi là 222,2 micrôgam /m³, sang năm 2008 lên tới 414,3 micrôgam; đường Trần Duy Hưng năm 2007 nồng độ bụi là 328,3 micrôgam/m³ đến năm 2008 lên tới 861,4 micrôgam/m³.

Đường Nguyễn Chí Thanh chỉ sau 1 năm, nồng độ này cũng tăng lên đáng kể, từ 172,2 micrôgam/m³ lên 244,2 micrôgam/m³; nồng độ bụi tại đường Bưởi cũng tăng lên gấp 3 – 4 lần từ 227,2 micrôgam/m³ lên 808,5 micrôgam/m³.

Tại một số tuyến phố, nồng độ bụi vọt lên trên 1.000 micrôgam như An Dương Vương từ 244,3 lên 1.002,3 micrôgam; Ngô Gia Tự từ 287,0 lên 1.278,6 micrôgam/m³; Khuất Duy Tiến từ 831,1 lên 1.138,1 micrôgam/ m³; nồng độ bụi trên đường Xuân Thuỷ từ 225,3 vọt lên 1.202,8 micrôgam/m³ cũng chỉ sau 1 năm. Một loạt các phố khác như Nguyễn Khoái, Minh Khai, khu vực Trung tâm Hội nghị quốc gia, Trần Quang Khải cũng trong tình trạng tương tự.

Tại khu vực Hà Nội mới, tình trạng ô nhiễm không khí do bụi, tiếng ồn và các khí thải gây ra cũng trong tình trạng báo động. Trên nút giao của đường 71 và đường 32 trên địa bàn huyện Đan Phượng, hàm lượng bụi đo được vượt tiêu chuẩn 6,3 lần; nút giao đường Láng – Hoà Lạc và đường 21 tại huyện Thạch Thất vượt 4 lần tiêu chuẩn quy định; ngã ba 429 tại thị trấn Phú Minh huyện Phú Xuyên có nồng độ bụi vượt 5,5 lần. Các khu vực như Sơn Lộc (Sơn Tây); dọc quốc lộ 32; đường cao tốc Láng – Hoà Lạc; thị trấn Chúc Sơn, Xuân Mai, Miếu Môn thuộc huyện Chương Mỹ; Phùng Xá thuộc Thạch Thất… đều có hàm lượng bụi cao gấp 4 lần tiêu chuẩn cho phép, giao động ở mức 1.199 micrôgam/m³. (DĐDN)

Bản đồ ô nhiễm ở Hà Nội

o nhiem1Để đánh giá ô nhiễm không khí, người ta thường căn cứ trên 5 tiêu chí bao gồm bụi có kích thước bé hơn 10 micron (PM10), khí SO2, NO2, CO và O3 (ô zôn). Ở thành phố, SO2 thường phát thải từ các lò đốt than và dầu chứa lưu huỳnh (như xe buýt), NO2 và CO phần lớn do động cơ ô tô xe máy phát ra, O3 do phản ứng hóa học trong khí quyển bởi khí thải từ xe cộ, PM10 liên quan đến rất nhiều nguồn phát thải giao thông, công nghiệp và sinh hoạt. Ở gần trục giao thông, PM10 chứa nhiều bụi đất do xe cộ tốc lên từ mặt đường.

Năm chất ô nhiễm nói trên đều tác hại đến sức khỏe. Minh chứng là hơn bốn nghìn người dân Luân Đôn tử vong bởi khói mù do nghịch nhiệt kéo dài nhiều ngày liền mùa đông năm 1954.

So với nhiều nơi khác trong vùng và trên thế giới, Hà Nội thuộc loại thành phố ô nhiễm không khí “có hạng”. Trầm trọng nhất là bụi PM10, hàm lượng thường vượt tiêu chuẩn cho phép, nhất là khu vực gần các trục giao thông và những nơi hay bị kẹt xe. Các chất khí ô nhiễm khác cũng khá trầm trọng, trên một vài địa bàn có thể vượt tiêu chuẩn.

Để có giải pháp cho tình trạng ô nhiễm không khí ở Hà Nội, cần biết khi nào, và trên địa bàn nào không khí bị ô nhiễm nặng nhất, và ô nhiễm bởi chất gì?

Về câu hỏi khi nào: Mùa đông ô nhiễm cao hơn mùa hè, nặng nhất vào tháng mười một, tháng mười hai . It nhất vào tháng bảy, tháng tám. Giữa trưa trời nắng và những hôm gió mạnh, mưa nhiều, chính là lúc không khí ít bị ô nhiễm nhất. Trong mùa khô, ô nhiễm nặng thường bắt đầu vài ngày sau khi gió mùa đông bắc tràn về và kéo dài trong nhiều ngày liền cho đến khi gió thịnh hành chuyển sang hướng đông nam trước khi xuất hiện đợt gió mùa mới. Trong thời gian này, hiện tượng nghịch nhiệt xảy ra sau khi mặt trời lặn khiến ô nhiễm tăng cao từ chập tối đến khuya.

Để trả lời câu hỏi thứ hai (trên địa bàn nào) cần phải lập bản đồ ô nhiễm không khí: Việc này đã được Chương trình Không khí Sạch Việt Nam – Thụy sĩ (SVCAP) phối hợp với Trung tâm Quan trắc và Phân tích Môi trường Sở TNMT Hà Nội (CENMA) tiến hành trong hai chiến dịch quan trắc SO2, NO2 và benzene tại hơn 100 vị trí khác nhau thuộc tám quận nội thành vào mùa đông (12/01 – 06/02) và mùa hè (17/08 – 11/9) năm 2007. Đây là công trình nghiên cứu khoa học có quy mô lớn, nhiều người tham gia, hàng trăm đầu dò theo nguyên tắc khí thụ động được chế tạo bởi PASSAM Thụy Sĩ và được chuyển trở lại nơi sản xuất sau khi phơi mẫu để phân tích.

Bản đồ ô nhiễm không khí được chính thức đưa vào “Báo Cáo Môi Trường Quốc Gia – Môi Trường Không Khí Đô Thị Việt Nam” do Bộ TNMT công bố tháng 6/2008. Ở đây xin đưa lại bản đồ thu được trong chiến dịch mùa hè. Vòng tròn nhỏ màu xanh lục đánh dấu vị trí các điểm quan trắc, hàm lượng khí ô nhiễm tính bằng micro gram trên mét khối không khí (μg/m-3). Bản đồ SO2 (do đốt than dầu chứa lưu huỳnh) bên trái, bản đồ NO2 (do xe cộ) bên phải. Để hình dung mức độ ô nhiễm, ta có thể căn cứ trên tiêu chuẩn tính trung bình cho cả năm là 40 μg/m-3 cho NO2 và 50 μg/m-3 cho SO2.

Hai giản đồ dưới đây so sánh mức độ ô nhiễm giữa tám quận nội thành về mùa đông (bên trái) và mùa hè (bên phải). Khí thải giao thông NO2 nhiều ở những quận có mật độ dân số cao, dân cư sống chen chúc, nhất là quận Hoàn Kiếm, sau đó đến Hai Bà và Ba Đình. Thanh Xuân và Hai Bà có nhiều cơ sở sản xuất nhỏ sử dụng than là hai quận dẫn đầu về ô nhiễm SO2 Tây Hồ là một trong hai quận ít ô nhiễm nhất. Quận Hoàng Mai cũng ít ô nhiễm vì dân cư còn thưa thớt, nhiều ao hồ và đất nông nghiệp.

o nhiem2

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ

Hà Nội: Khí phóng xạ độc hại Radon

Nồng độ khí độc hại Radon trong nhà ở là một trong những tiêu chuẩn sống văn minh ngày càng được nhiều nước quan tâm. Hà Nội bắt đầu chú ý tiêu chuẩn này.
Tiêu chuẩn của cuộc sống văn minh

Con người càng văn minh, nhu cầu về chất lượng cuộc sống càng lớn, càng đa dạng. Xã hội càng phát triển, số tiêu chuẩn mới về chất lượng sống của dân chúng xuất hiện càng nhiều và càng được cộng đồng quan tâm, đòi hỏi.

Theo quy luật đó, trong những năm gần đây, ở nhiều nước phát triển, dân chúng bắt đầu quan tâm đến phông phóng xạ môi trường nơi họ sống, đặc biệt quan tâm đến nồng độ khí Radon trong ngôi nhà họ ở, và xem đó như là một trong những tiêu chuẩn của cuộc sống văn minh.

Đã qua rồi cái thời mà con người vẫn tưởng chất phóng xạ ở đâu xa, không can hệ gì tới bản thân mình. Nay đã khác rồi, nhiều người đã biết rằng, quanh mình, khắp mọi nơi, đều có chất phóng xạ, chúng tồn tại ngay từ khi quả đất hình thành, loài người sinh ra, và có ảnh hưởng nhất định đến sức khỏe con người.

Các đồng vị phóng xạ có trong mọi loại đất đá, nước, không khí, thực phẩm, trong không gian ngôi nhà và ngay trong mỗi bộ phận của con người. Chủ yếu đó là nguyên tố phóng xạ tự nhiên Uran, Thori và các sản phẩm phân rã, tức con, cháu, chắt… của chúng (cũng là những đồng vị phóng xạ). Ngoài ra, còn một đồng vị phóng xạ khác nữa – Kali K-40 có nhiều trong rau, hoa quả và cơ thể người.

Chính các chất phóng xạ đó liên tục phát ra tia (hạt) bức xạ, như anpha, bêta, gamma… Các loại bức xạ đó không thể nhìn thấy được, nhưng từng giây từng phút chiếu lên cơ thể một liều chiếu xạ tổng cộng, có thể gây hại nếu vượt qua một giới hạn nhất định. Liều chiếu xạ càng cao, tác hại sẽ càng lớn. Liều chiếu xạ trung bình đối với các vùng dân cư ở các quốc gia trên thế giới, nói chung, nằm trong khoảng từ 2,1 đến 2,5 theo đơn vị mSv.

Không ít người đã ngần ngại, lo lắng hay thậm chí từ chối sống ở một vị trí địa lý mà liều chiếu xạ vượt quá nhiều giá trị trung bình của thế giới nói trên, chẳng hạn những vùng gần mỏ Urani.

Ở Hà Nội, theo các kết quả khảo sát bởi nhóm chuyên gia (N. Q. Long, T. T. Mai, D.V. Thắng, N.T. Hậu) của Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân, liều chiếu xạ nói trên cũng xấp xỉ với nhiều nước. Như vậy, có thể khẳng định rằng, môi trường phóng xạ tự nhiên ở Hà Nội là bình thường, hay nói cách khác, tiêu chuẩn về môi trường phóng xạ tổng quát ở Thủ đô có thể xem là tốt.
Tuy vậy liều chiếu xạ tổng cộng nói trên chưa phải là tất cả. Đáng quan tâm hơn nữa là một nguyên tố phóng xạ tự nhiên – Radon (ký hiệu Rn). Chính nồng độ Radon mới ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ con người. Nồng độ Radon trong một căn phòng, một ngôi nhà đã trở thành một trong những tiêu chuẩn sống cần thiết của con người hiện đại.
Radon – “kẻ thù giấu mặt”

Ảnh hưởng lớn của Radon đối với sức khỏe chủ yếu vì Radon là một chất khí, chất khí đặc biệt, không chỉ là là một loại khí trơ mà là khí phóng xạ. Là khí trơ về hoá học, khi sinh ra, các nguyên tử Radon không liên kết với các nguyên tử vật chất khác trong các vật thể chủ, như vật liệu xây dựng, đất đá và những khoáng vật khác, nên chúng dễ dàng thoát qua các vết rạn và lỗ trống rất nhỏ trong các lớp đất; đá, tường và nền nhà rồi khuyếch tán vào không khí, vào các căn phòng của nhà ở, từ đó con người có thể hít vào phổi.

Cuối cùng các hạt nhân Radon phân rã thành chuỗi nhiều hạt nhân con cháu, trong đó nguy hiểm nhất là đồng vị phóng xạ Polonium Po-218.
P-218 phân rã alpha với chu kỳ bán huỷ 3,05 phút, đủ cho một vài chu trình thở trong hệ thống hô hấp của người, và chúng có thể bị lưu giữ tại phế nang.
Tại phế nang, Po-218 phân rã alpha. Các hạt alpha có năng lượng rất cao sẽ bắn phá nhân tế bào phế nang, gây ra các sai hỏng nhiễm sắc thể, tác động tiêu cực đến cơ chế phân chia tế bào. Mặt khác, các hạt nhân khi phân rã sẽ bị giật lùi, năng lượng giật lùi này có thể đủ để phá vỡ các phân tử protein trong tế bào phế nang.
Kết quả là xác suất gây ung thư do Radon gây ra khá cao. Nguy cơ ung thư phổi phát triển do sự chiếu xạ của Radon tuỳ thuộc vào lượng khí Radon mà chúng ta hít phải. Càng có nhiều Radon trong không khí, tác hại càng lớn. Ngoài ra, tác hại càng lớn hơn nếu khoảng thời gian chúng ta hít thở trong không khí chứa Radon càng lâu.
Với tất cả những đặc tính và tác hại nói trên, rõ ràng đối với sức khỏe con người Radon là “kẻ thù giấu mặt”. Radon đóng vai trò quan trọng nhất trong phông phóng xạ tự nhiên, đóng góp một liều chiếu từ 50% đến trên 80% liều chiếu xạ tự nhiên tổng cọng nói ở phần trên. Việc xác định nồng độ khí phóng xạ Radon có ý nghĩa rất quan trọng với mục đích giám sát, cảnh báo nguy cơ ung thư phổi đối với cộng đồng.

Các nguồn số liệu thu thập bởi nhiều phòng thí nghiệm trên thế giới cho thấy: ngoài trời, nồng độ Radon thường đo trung bình trong một mét khối khoảng 10 đơn vị Bq/m3 (Berquerel là đơn vị hoạt độ phóng xạ, viết tắt Bq). Trong phòng ngủ, tầng hầm, mỏ khoáng sản… nồng độ Radon có thể dao động từ 20 đến 10.000 Bq/m3, hoặc nhiều hơn nữa. Những nơi chứa nồng độ Radon lớn chính là trong các ngôi nhà làm bằng vật liệu chứa hàm lượng Uranium cao, căn phòng bịt kín không thoáng mát, các tầng hầm của các tòa nhà lớn… và đặc biệt là ở trong các hầm mỏ khai thác Uranium.

Hiện nay, Việt Nam chưa khuyến cáo mức nồng độ Radon giới hạn cần can thiệp để giảm xuống thấp hơn, trong lúc nhiều nước phát triển đã có quy định pháp lý. Ở các nước châu Âu mức đó là 200 Bq/m3. Riêng với Mỹ tiêu chuẩn này khắt khe hơn, theo Luật Môi trường Mỹ cho phép khí Radon trong nhà ở nhỏ hơn 75 Bq/m3.

Nồng độ Radon ở Hà Nội?

Trong khuôn khổ dự án nghiên cứu do Sở Khoa học Công nghệ Hà Nội chủ trì, nồng độ khí phóng xạ Radon tại nhiều điểm, ngoài trời và trong nhà khu vực Hà Nội (cũ) cũng đã được khảo sát bởi nhóm nghiên cứu nói trên của Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân.

Nồng độ khí Radon ngoài trời ở 231 địa điểm khác nhau đã được đo. Kết quả xác định được nồng độ Radon trung bình ở Hà Nội là 17 đơn vị Bq/m3. Nơi

Quan trọng nhất là Radon trong nhà ở. Nhóm nghiên cứu đã đặt đêtectơ theo dõi Radon ở 40 căn phòng của thành phố Hà Nội trong 3 tháng liên tục, 2 lần vào năm 2007 và 2008. Kết quả cho thấy nồng độ Radon ở nơi thấp nhất đo được là 7,2 Bq/m3, nơi cao nhất là 138 Bq/m3 và trung bình là 38,3 Bq/m3 (Ở các nước trên thế giới và khu vực khoảng 26 Bq/m3).
Kết quả khảo sát nồng độ Radon trong nhà (và cả ngoài trời) lần này cao hơn khảo sát trước đây, năm 1996, bởi nhóm đề tài KC.09.18. Sự tăng cao này liên quan đến sự phát triển mật độ nhà, sự xuất hiện nhiều nhà cao tầng và phổ biến hơn trước trong việc dùng phòng lạnh kín. Tất cả những yếu tố trên đều tăng lượng Radon từ vật liệu xây dựng phát ra và lưu giữ chúng lâu trong các gian phòng.
Dù sao, các số liệu khảo sát Radon ở Hà Nội cũng có thể xem như tương đương với ở các khu dân cư ở các nước trên thế giới và trong khu vực Đông Nam Á, chưa gây điều gì đáng quan ngại cho cộng đồng dân cư  Thủ đô.

Tất nhiên, cũng cần lưu ý đến sự xuất hiện nồng độ Radon tương đối cao (138 Bq/m3) ở một căn phòng Hà Nội, con số đó vượt quá tiêu chuẩn quy định của nước Mỹ. Chắc đây chưa phải là trường hợp có độc hại Radon cao duy nhất, vì chỉ mới có một số lượng rất nhỏ, 40 căn phòng ở Hà Nội được khảo sát. Hẳn sẽ còn có nhiều căn phòng, ngôi nhà có nồng độ Radon vượt quá con số 138 Bq/m3 nói trên.
Điều này đặt ra nhu cầu tiếp tục khảo sát với một mật độ dày hơn nữa các căn phòng, với các ngôi nhà xây dựng bằng vật liệu khác nhau, kết cấu khác nhau, cao độ khác nhau, vị trí địa lý khác nhau. Để từ đó có những kết luận đầy đủ hơn, chuẩn xác hơn.
Và từ đó rút ra được những kết luận có ý nghĩa, đưa ra những khuyến cáo bổ ích cho cộng đồng dân cư ở Thủ đô. Bắt đầu từ Hà Nội và dần dần mở rộng ra các địa phương khác. Đồng hành với xu hướng tăng dần từ những tiêu chuẩn sống tối thiểu của một thời kỳ chỉ lo “cơm áo” đến những tiêu chuẩn sống cao hơn của thời đại văn minh của Việt Nam chúng ta.
  • Trần Thanh Min/VietnamNet

đo thấp nhất là 4 đơn vị Bq/m3 và nơi đo cao nhất là 58 Bq/m3.