Chúng tôi là công dân văn minh của một nước đang phát triển, không phải là các sinh vật lạ!

Ngã tư, đèn đỏ, giờ tan tầm, xe kẹt cứng. Mấy thanh niên đi xe gắn máy cùng chiều với bạn, chạy sau, thay vì dừng lại ở ngã tư cho xe từ đường giao cắt quẹo qua, đợi đèn xanh rồi đi tiếp thì lại lấn trái đường lên cho sát ngã tư làm xe bên kia không quẹo qua được. Thế là kẹt lại thêm kẹt.

rac

Dân trí kém, do đâu?

Hẳn không ít lần bạn đã gặp tình cảnh đó và buột miệng: Dân trí gì mà thấp kém! Đi trên đường, không ít lần bạn chứng kiến người ta vứt xác chuột chết ra đường hoặc quét tấp rác, đổ đồ ăn dư thừa xuống miệng hố ga, làm cống có thể bị nghẹt. Bạn lầm bầm: Dân trí ở đâu nhỉ? Đi mua vé tàu xe, bạn đang xếp hàng chờ tới lượt mình, bỗng mấy cô ả từ đâu sấn tới, chen lên đầu, giành quyền mua vé của mấy người sắp đến lượt ở hàng đầu. Có người phản đối; có người, nhìn vẻ bặm trợn của mấy cô ả, không dám hé môi. Bạn lại lầm bầm, bực tức: Đúng là dân trí thấp kém!

Có thể kể ra vô số trường hợp như vậy. Và bạn nghĩ không sai: Dân trí của không ít người Việt mình kém thật. Người Việt mình bây giờ đi ra nước ngoài du lịch hay làm ăn cũng nhiều hẳn đều có thể thấy ở nhiều chỗ người ta tự động xếp hàng, không ai đến sau mà tự tiện chen lên trước nếu không muốn bị nhìn như con quái vật; đến ngã tư đường gặp đèn đỏ, dù đường giao cắt chẳng có chiếc xe nào chạy và tuyệt nhiên chẳng thấy bóng dáng một anh cảnh sát, người lái xe cũng tự động dừng xe chờ đèn xanh; thậm chí vào nhà hàng người ta cũng phải chờ người phục vụ chỉ định bàn tùy theo số người đi với bạn nhiều hay ít chứ không phải thích sà vào bàn nào là sà vào, một mình chiếm cả một cái bàn dành cho 5-6 người. Và trong môi trường đó dường như đa số người Việt mình đi nước ngoài cũng tỏ ra lịch sự hơn, biết tuân thủ các quy ước xã hội hơn.

Thế nhưng ở trong nước lại khác. Sống trong một môi trường mà chẳng ai thèm đếm xỉa gì đến cái chung, chẳng ai thèm nhường nhịn ai, chẳng ai buồn tuân thủ các quy ước xã hội, người ta như bị cuốn phăng đi. Và giả như bạn muốn sống đúng theo điều bạn nghĩ, muốn tuân thủ pháp luật và những quy ước xã hội tốt đẹp, hãy chuẩn bị tinh thần để đón nhận cái nhìn của đa số còn lại coi bạn như một kẻ dở hơi. Đó là một thực tế chúng ta đụng chạm hàng ngày khi đi ra đường, khi vào tiệm ăn, khi xếp hàng mua vé hoặc làm giấy tờ…

Dựa trên thực tế đó, trong không ít phát biểu của các quan chức, trong rất nhiều bài báo, sau khi đế cập đến những hiện tượng kém văn minh của người dân mình như hiện tượng chen lấn gây kẹt xe, thường kết luận về nguyên nhân của hiện tượng gỏn lọn bằng một cụm từ: kém dân trí. Ít ai chịu khó đặt tiếp vấn đề: Dân trí kém do đâu? Dân trí từ đâu ra? Dân trí không từ trên trời rơi xuống. Dân trí một nước là kết quả của một quá trình hun đúc, bồi đắp lâu dài thông qua ít nhất ba con đường: giáo dục; sự thi hành luật pháp nghiêm minh, nhất quán; và sự tự kiểm soát, tự điều chỉnh của xã hội dân sự. Ở ta, cả ba con đường này đều có vấn đề, đều khiếm khuyết không nhiều thì ít.

Xô đẩy, giành nhau “thanh toán” hoa anh đào - Ảnh: PHẠM HẢI

Xô đẩy, giành nhau “thanh toán” hoa anh đào - Ảnh: PHẠM HẢI

Nền giáo dục ở ta từ mấy chục năm qua, ngoài việc cung cấp kiến thức chuyên môn cho học sinh, chỉ tập trung giáo dục lý tưởng chính trị và đạo đức cách mạng vốn cần thiết trong giai đoạn đấu tranh giành độc lập, mà ít chú ý giáo dục đạo làm người và tinh thần công dân cần thiết cho việc xây dựng xã hội trong thời bình, nhất là một xã hội đang muốn vươn đến chỗ là một xã hội văn minh, hiện đại. Những đức tính như lòng trung thực, lương tâm chức nghiệp, ý thức tôn trọng của công, tôn trọng những quy ước của một xã hội văn minh không được coi trọng.

Từ một xã hội bao cấp thiếu thốn đủ bề chuyển qua nền kinh tế thị trường còn đậm nét sơ khai, nhiều chuẩn mực và giá trị cũ đổ vỡ trong khi những chuẩn mực và giá trị mới phù hợp với giai đoạn mới, yêu cầu mới lại không được kịp thời xây dựng, con người như sống trong thời hoang sơ, chỉ biết làm sao thỏa mãn nhu cầu của riêng mình, bất chấp nó có ảnh hưởng gì đến xã hội, đến cái chung hay không. Việc giành đường, cướp đường nói lên rất rõ điều này, trong khi việc thi công cầu đường kém chất lượng do rút ruột công trình, làm dối, làm ẩu nói lên rất rõ sự thiếu vắng lương tâm chức nghiệp và tính trung thực của công dân trong một xã hội văn minh.

Trong khi đó, việc thi hành nghiêm minh luật pháp, một yếu tố mang tính cưỡng chế (đối với thiểu số công dân kém ý thức) nhưng có tác dụng góp phần hình thành dân trí, lại cũng có vấn đề. Luật pháp ở ta chưa đảm bảo cho người chấp hành luật nghiêm túc được bảo vệ, được an toàn, nói chi đến được tưởng thưởng; trong khi đó những người vi phạm luật, lách luật nhiều khi chẳng những không bị trừng phạt mà còn thu được lợi ích từ việc vi phạm hoặc lách luật đó. Tình trạng ấy, cộng với tình trạng ăn hối lộ để cho một số người qua mặt luật pháp đã vô hiệu hóa mọi ý đồ hoặc nỗ lực sử dụng luật pháp như một công cụ nâng cao dân trí. Từ đó dẫn đến tình trạng xem thường pháp luật tràn lan, rõ nhất là trong lĩnh vực giao thông.

Cuối cùng, bổ sung cho hai con đường nâng cao dân trí kể trên, nhưng không kém phần quan trọng, là hoạt động của xã hội dân sự.

Đứng trước những thách thức mới hay những nhu cầu mới đặt ra cho xã hội, thường bao giờ từ trong cộng đồng cũng xuất hiện những tập hợp tự nguyện của những công dân vì lợi ích chung của cộng đồng mà đứng ra phản ứng trước những thách thức đó hoặc đáp ứng những nhu cầu chung đó rồi bằng chính hoạt động của họ, thuyết phục, vận động mọi công dân khác cùng làm theo.

Nhà nước dù mạnh đến đâu, luật pháp dù hoàn thiện đến đâu cũng không thể giải quyết được mọi vấn đề đặt ra cho xã hội. Xã hội dân sự, với các tổ chức, hội đoàn đủ loại, hoạt động độc lập với nhà nước nhưng lại đóng vai trò bổ trợ cực kỳ hữu ích cho sự khiếm khuyết của nhà nước và luật pháp trong việc đảm bảo sự vận hành tốt đẹp của xã hội. Tuy nhiên, ở Việt Nam, với chế độ bao cấp (trong đó nhà nước được xem và được trông đợi là người cung cấp tất cả) kéo dài và với sự nghi kỵ chưa phải đã hết đối với tất cả những gì không được “đóng dấu” nhà nước, xã hội dân sự đã bị teo tóp đi, sáng kiến công dân không còn chỗ đứng.

Trong bối cảnh như vậy, trước những vấn nạn như vấn nạn trật tự giao thông, khi nhà nước tỏ ra bất lực, còn các hội đoàn chính thống thì thụ động vì bị hành chính hóa, giáo dục thì không thực sự sản sinh ra được những công dân trưởng thành, có đầy đủ ý thức công dân… xã hội dân sự cũng chẳng đóng góp được gì trong việc “nâng cao dân trí” vì từ lâu đã bị nghi kỵ, không được khuyến khích.

Lấy vụ việc xảy ra gần đây là vụ em Nguyễn Thị Bình bị vợ chồng chủ một quán phở ở phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội hành hạ như một nô lệ trong suốt 13 năm làm thí dụ, ta thấy cả luật pháp, cả hệ thống chính trị từ tổ chức Đảng, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Đội Thiếu niên Tiền phong đến công an phường, cảnh sát khu vực, tổ dân phố… đều đã chẳng làm gì để bảo vệ và giải cứu em Bình. Họ còn không biết có vụ việc như vậy thì em và những người như em còn biết kêu vào đâu, trông đợi vào đâu. Em Bình đã được giải cứu chỉ nhờ vào lòng trắc ẩn và can đảm của một người phụ nữ đã 70 tuổi. Nếu xã hội dân sự phát triển, nếu có nhiều những con người tốt bụng như bà Hà Thị Bình trong những tập hợp công dân tự nguyện vì xã hội thì không ít trường hợp tương tự trường hợp em Bình có thể được ngăn chặn từ sớm. Nhiều quy ước, tập quán xã hội tốt cũng có thể nhờ những tập hợp tự nguyện đó mà hình thành.

Do vậy, muốn dân trí được nâng cao, ngoài vai trò của giáo dục có khả năng đáp ứng nhu cầu mới của xã hội, ngoài sự nghiêm minh và không thiên vị của pháp luật, phải có chỗ cho sáng kiến công dân, có chỗ cho trí tuệ và năng lực của dân được tự do hoạt động. Mỗi khi than phiền về dân trí, xin hãy chịu khó suy nghĩ thêm một chút.

Đoàn Khắc Xuyên

Theo SaiGon Times

* HNX đã thay đổi tiêu đề bài viết

6.000 tỉ đồng và những cuộc nhậu!

6.000 tỉ đồng là ước tính theo mức giá rẻ nhất chi phí cho rượu bia mỗi năm ở một đất nước còn nghèo như VN. Đó là chưa kể các chi phí “tính được” cho khám chữa bệnh, xử lý tai nạn giao thông, tai nạn lao động, giảm năng suất lao động; “không tính được” với những kẻ gây tội ác trong cơn say, mất nhân tính, phạm pháp hoặc gây tai nạn giao thông…

Chưa ở đâu và chưa lúc nào nhậu lại phổ biến đến thế như ở VN lúc này. Khắp các thị tứ, thôn quê, quán nhậu đầy ắp thực khách cùng tiếng ồn ào “1, 2, 3 dzô” hay tiếng lóng “bắc cạn”, “qua phà”, “cao bằng” hết mình của dân nhậu.

Nghiên cứu của Viện Chiến lược và chính sách y tế (Bộ Y tế) cho thấy mức độ sử dụng bia rượu của người VN khá cao, 6,4 ly/ngày và 26,1 ly/tuần, vượt quá xa so với tiêu chuẩn an toàn của Tổ chức Y tế thế giới! Trong khi phần lớn rượu tiêu thụ được sản xuất thủ công, có nguy cơ cao đối với sức khỏe. Mỗi năm, VN sản xuất tới 1,2 tỉ lít bia, 350 triệu lít rượu (thậm chí có thể hơn vì chưa kiểm soát được sản lượng rượu thủ công lên tới… 2.000 loại) và tốc độ tăng trưởng mỗi năm lên đến 8-10%!

Cùng với tốc độ tăng trưởng của sản lượng bia rượu là lượng người mắc các bệnh liên quan đến thứ men này. Theo một điều tra của Bệnh viện Tâm thần Hà Nội, “khoảng mười năm trở lại đây, ảo giác do rượu, hoang tưởng do rượu đều tăng lên, trong khi những bệnh lý này trước đây rất hiếm ở VN”. Theo đó, năm 2000 bệnh nhân tâm thần có liên quan đến lạm dụng rượu chiếm 4,4% tổng số bệnh nhân tâm thần, năm 2004 con số này là 7,03%. Nghiên cứu của Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội trước đó cũng cho thấy rượu là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến bạo lực và tan vỡ gia đình.

Giới y khoa cho rằng có tới 11 chứng bệnh liên quan đến rượu bia và đều là những chứng bệnh nguy hiểm tới tính mạng: viêm gan do rượu, viêm tụy, ung thư, viêm dạ dày, tim mạch, rối loạn nội tiết và chuyển hóa, tổn thương não, đột quỵ, ung thư… Từ đầu năm tới nay đã có hàng chục người ở các tỉnh ĐBSCL tử vong đột ngột sau khi nhậu “quắc cần câu”. Nhưng bợm nhậu vẫn không sợ, bằng chứng là các quán nhậu vẫn luôn đầy ắp người và ngay với giới công sở, rượu bia vào buổi trưa cũng trở nên “chuyện bình thường”.

Cách đây hai năm, Viện Chiến lược và chính sách y tế lần đầu tiên đã có một báo động đỏ về tình hình lạm dụng bia rượu ở VN, với một điều tra tại bảy tỉnh thành (ngoại trừ Hà Nội và TP.HCM do nhóm nghiên cứu đánh giá đây là hai địa phương đặc thù, không điều tra cũng biết là sử dụng rất nhiều bia rượu!). Nhóm nghiên cứu đã đề xuất Nhà nước nên có chính sách: độ tuổi nào mới bắt đầu được uống rượu bia, địa điểm nào được phép bán rượu bia, nên có luật để giám sát tình trạng rượu bia đã trở nên quá lan tràn… Nhưng đến nay, tất cả các đề xuất này hầu như không thực hiện được.

Đầu tháng tám năm ngoái, tiên Bộ Công thương đã ban hành hướng dẫn sản xuất rượu thủ công, nhằm giảm độc hại cho người sử dụng. Cụ thể, các cơ sở sản xuất rượu sẽ phải tuân thủ các quy định về công bố chất lượng, đảm bảo vệ sinh thực phẩm, ghi nhãn hàng hóa, bảo vệ môi trường… Theo ông Đàm Viết Cương – nguyên viện trưởng Viện Chiến lược và chính sách y tế, “Chính phủ từng có chỉ thị cấm cán bộ công chức sử dụng rượu bia trong giờ làm việc, nhưng ở VN thì khó lắm. Vì thế mới cần có luật, có barie để người ta biết lạm dụng rượu bia là phạm luật, là bất hợp pháp”! Nhưng dường như ngoài luật cũng cần đánh động ý thức của mỗi công dân, nếu người ta biết tiếc 6.000 tỉ đồng mỗi năm chảy vào bia rượu…

LAN ANH

Theo TTO

Anh xe ôm chuyên nhặt đinh

Dưới cái nắng gay gắt, trên xa lộ Hà Nội, đoạn từ ngã tư Bình Thái đến trước Công ty Truyền tải điện 4 (P.Trường Thọ, Q.Thủ Đức, TP.HCM), anh Nguyễn Thanh Tiến cặm cụi nhặt từng chiếc đinh mà những người xấu đã rải trên đường.

Chỉ trong 20 phút anh Tiến đã nhặt được một nắm đinh - Ảnh: T.C.N.

Chỉ trong 20 phút anh Tiến đã nhặt được một nắm đinh đủ loại: những miếng thép được cắt nhọn hai đầu, những cây đinh 5cm bẻ cong và rất nhiều loại đinh khác…

Anh Tiến hành nghề xe ôm ở bến xe tự quản P.Trường Thọ. Anh thường đậu xe đợi khách tại ngã tư Bình Thái. Hơn một năm nay, trong lúc đợi khách ngày nào anh Tiến cũng làm công việc nhặt đinh. Những ngày cuối tuần anh thu được cả ký đinh.

Anh Tiến kể hầu như ngày nào cũng thế, cứ khoảng 6-7g sáng có hai người đàn ông trạc 30 tuổi, ăn mặc nhếch nhác, đi trên xe 67 cũ nát không biển số rải từng bụm đinh xuống đường. Trong khi đó, bên trong đường Nguyễn Văn Bá có rất nhiều điểm vá xe.

Anh Tiến kể trước đây anh từng bị dính đinh trên đoạn đường trên nên rất căm ghét cách làm ăn phi pháp, hại người này. Cách đây không lâu, anh từng chứng kiến trường hợp thương tâm là hai nữ sinh viên đi trên xe máy với tốc độ nhanh bất ngờ bánh trước cán phải đinh làm xe chao đảo. Xe ngã, cả hai máu me bê bết, may mà xe du lịch ở sau trờ tới thắng kịp. Anh Tiến bảo anh bỏ công nhặt đinh vì nghĩ mỗi cây đinh anh nhặt sẽ giúp người đi đường tránh được tai họa.

TRẦN CHÁNH NGHĨA

Theo TTO

DecorXanh: Bảng gỗ treo chìa khóa

Chắc hẳn ai trong số chúng ta cũng đã từng một lần lục tung đồ đạc chỉ để tìm chùm chìa khóa, có khi mất cả nửa tiếng đồng hồ mà vẫn chẳng thấy đâu.

DecorXanh sẽ giúp bạn giải quyết vấn đề này nhé: chỉ với một chút thời gian và một vài sáng tạo nho nhỏ, bảng gỗ treo chìa khóa này chắc chắn sẽ còn là vật trang trí rất ấn tượng nữa đấy 😉

Bảng treo chìa khóa xinh xắn

Bảng treo chìa khóa xinh xắn

Bạn sẽ cần:

–       Một bảng gỗ (kích thước tùy chọn, trong hình mẫu là 27x55cm)

–       Núm gỗ nhỏ dài khoảng 5-6cm (đường kính 12mm)

–       2 màu sơn, 1 cho bảng gỗ và 1 cho núm treo, màu sắc tùy chọn

–       Khoan, ốc vít.

Cách làm:

–       Sơn bảng gỗ và núm theo màu bạn chọn, để khô.

–       Đánh dấu những vị trí bạn muốn làm núm treo, khoan và bắt vít các núm treo này vào bảng gỗ (tất nhiên bạn có thể dùng keo dán nếu tìm được loại keo chuyên dụng chất lượng tốt)

Bảng treo chìa khóa đã xong rồi, bạn xem treo ở chỗ nào thì tiện nhất nhé. Nếu có thêm một vài thứ đồ ngộ nghĩnh treo xen kẽ giữa những chùm chìa khóa nữa thì sẽ tuyệt lắm đấy 😉

Nhậu và tình yêu, tôi không thể bỏ cái nào

“Anh không phải là một thằng nghiện rượu”, tôi thường hét lên câu này mỗi khi bị bạn gái chỉ trích tội say xỉn. Dù ba tôi nghiện rượu nặng, phá tan hoang cửa nhà sau những cơn say, dù ai cũng bảo “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”, tôi không bao giờ muốn giống ba, ít ra về khoản hơi men.

Thế mà không biết bao nhiêu lần tôi làm khổ bạn gái vì rượu. Lần thứ nhất tôi đưa nàng về nhà ra mắt, anh em mỗi người mời một ly chúc mừng. Kết quả là lúc chở nàng về, tôi cho nàng đo đất hai lần. Lần thứ hai, nàng đi làm ở một triển lãm vài ngày, tôi đi nhậu cùng đám bạn. Hôm đó tôi say khướt, tự dưng ghen tuông, gọi điện cho nàng quậy một trận… Tôi tưởng nàng sẽ không bao giờ tha thứ cho tôi, nhưng chắc nhờ cái mặt quá “thảm” cùng cái miệng khá ngọt của tôi, nàng cũng xiêu lòng cho tôi thêm một cơ hội nếu như tôi thề bỏ rượu từ đây.

Một cuộc nhậu để chứng tỏ bản lĩnh đàn ông – Ảnh: GIA TIẾN

Kỳ thực tôi không thích uống rượu, tửu lượng cũng thấp. Bạn tôi nói: “Vậy thì mày càng phải uống thường xuyên hơn, có vậy mới không say, nó hết lý do nhằn mày”. Thế là đẻ ra lần thứ ba, lúc đó quá nửa đêm, nàng đang ngủ nên không nghe máy. Trong lúc say tôi nghĩ là nàng làm cao. Thế là điên lên, tôi bấm số điện thoại bàn nhà nàng, lôi cả nhà nàng dậy. Nàng rút dây điện thoại bàn, rồi nhắn tin đòi chia tay. Lại năn nỉ, hứa hẹn, lại xiêu lòng. Cứ như vậy tới giờ là lần thứ n…

Trong hai năm yêu nhau, chỉ vì rượu bia mà biết bao lần xảy ra chiến tranh giữa hai đứa, tôi tự đánh mất hình ảnh của mình trước nàng. Nhưng công việc và những mối quan hệ xã hội luôn biến tôi thành “con ma men nhà họ hứa”. Tôi phải làm gì đây? Chia tay cho nàng bớt khổ? Nếu gia đình nàng biết về ba tôi, cả những “thành tích” của tôi, chắc chắn họ sẽ không bao giờ giao con gái cưng cho tôi. Tôi không thể chia tay vì quá yêu nàng.

Còn bỏ nhậu? Có thể trốn được vài lần chứ không thể trốn cả đời. “Đàn bà xây dựng quan hệ bằng cái miệng, đàn ông xây dựng quan hệ bằng bàn nhậu”, tôi chưa đủ bản lĩnh để thay đổi tiền lệ đó. Bây giờ, tôi vẫn là một kẻ thảm thương vì luôn gục ngã trên bàn nhậu đầu tiên, và chuyên “hứa lèo” với người mà mình rất yêu thương. Tôi thấy mình hình như ngày càng giống ba…

Nam Le Ba

Theo TTO

Trồng rau, quả sạch bằng phương pháp khí canh (không cần đất)

Lần đầu tiên tại Việt Nam xuất hiện công nghệ trồng cây không cần đất nhưng vẫn cho ra các sản phẩm cây trồng sạch. Công nghệ này cũng có thể dùng để trồng rau, quả cho các hộ gia đình.

Tiết kiệm đáng kể chi phí

aâ

Cây cà chua được trồng bằng công nghệ khí canh. Ảnh: Minh Phương

GS.TS Nguyễn Quang Thạch, nguyên viện trưởng viện Sinh học nông nghiệp (Hà Nội), chủ nhiệm của đề tài nghiên cứu ứng dụng trồng cây không cần đất cho biết, đây là công nghệ lần đầu tiên được triển khai tại Việt Nam. Công nghệ có tên gọi “công nghệ khí canh trong sản xuất giống cây trồng”, hoạt động bằng cách phun sương kích thích cây ra rễ mà không cần đến sự tham gia của đất. Nguyên lý của công nghệ là phun dinh dưỡng dạng sương mù vào bộ rễ. Rễ cây không trực tiếp nhúng vào dung dịch dinh dưỡng. Thời gian phun và số lần phun trong ngày được điều chỉnh hợp lý tuỳ theo tình trạng sinh lý của cây và nhiệt độ môi trường bên ngoài. Vì có thể điều khiển tự động thời gian phun, dung dịch dinh dưỡng… nên có thể tính chính xác chế độ dinh dưỡng cho từng cây, chẳng hạn cây lấy lá có thể tăng thêm hàm lượng natri, cây lấy củ thêm kali. Ngoài ra, cũng có thể dùng máy bơm cao áp, khí nén, áp lực nước… phun để cây sinh trưởng.

Bộ rễ cây trồng theo công nghệ này hoàn toàn nằm trong không khí, chất dinh dưỡng và nước được phun theo chu kỳ lên toàn bộ hệ rễ. Dung dịch thừa được thu lại, lọc, bổ sung tiếp tục sử dụng. “Do không cần thường xuyên tiếp xúc một lớp nước dày nên trọng lượng của hệ khí canh tương đối nhẹ, dễ bố trí trên nóc các sân thượng ở các thành phố vừa thu được rau sạch, vừa tạo cảnh quan xanh cho các gia đình”, ông Thạch nói. Theo tính toán sơ bộ, áp dụng công nghệ khí canh có thể giảm 98% chi phí về nước, 95% phân bón và 99% thuốc bảo vệ thực vật. Trong hệ thống khí canh, nhiệt độ ở vùng rễ luôn thấp hơn nhiệt độ ngoài trời khoảng 2oC do hiệu ứng bốc hơi, nhờ vậy cây sinh trưởng nhanh hơn trong đất. Công nghệ khí canh không sử dụng đất nên môi trường có độ sạch cao, cây sạch bệnh. Khi trong hệ thống có một cây bị nhiễm bệnh thì có thể di chuyển ra khỏi hệ thống dễ dàng mà không ảnh hưởng đến cây khác.

Hàm lượng dinh dưỡng vẫn bảo đảm

Ông Thạch cho biết, do chủ động điều chỉnh nhu cầu dinh dưỡng của cây, có thể gia tăng số lượng cây giống (áp dụng cho sản xuất lớn) so với nhân giống trong tự nhiên từ 10 – 11 lần/tháng nên cho phép nhà vườn không phải nhập thêm hạt giống F1. Những kết quả nghiên cứu ban đầu tại viện Sinh học nông nghiệp cho thấy, cây giống trồng bằng phương pháp khí canh cho 40 – 50 củ giống gốc (so với 4 – 5 củ trồng dưới đất). Sản phẩm sau thu hoạch của những cây được nhân giống từ công nghệ khí canh không thay đổi nhiều về chất lượng dinh dưỡng. Thậm chí cà chua, ớt… sau thu hoạch, độc tố kim loại nặng còn thấp hơn cách trồng bằng đất. Các loại quả cũng cho hàm lượng vitamin tăng, tuy nhiên hàm lượng nước thì hơi cao, “do có nhiều ưu điểm so với các công nghệ trồng trọt khác, công nghệ khí canh có thể ứng dụng để giảm giá thành cây giống trong công nghệ sinh học thực vật”, ông Thạch nói.

Tuy nhiên có một hạn chế khi dùng khí canh là phải phụ thuộc nguồn điện. Có điện mới vận hành được hệ thống, phun được dung dịch dinh dưỡng… nên công nghệ này tỏ ra có ưu thế để ứng dụng ở các thành phố hơn vùng quê. Nếu mất điện một vài giờ có thể dùng nước vẩy cho cây không bị héo. “Kinh nghiệm cho thấy ở nước ngoài, nhiều gia đình dùng hệ thống khí canh trong nhà, dùng đèn chiếu sáng cho cây, nên khi cúp điện, đèn cũng tắt, không sợ cây héo. Nếu trồng đại trà cho các nhà vườn hoặc trang trại, có thể dùng năng lượng gió để nén khí, khi đó không lo vấn đề điện nữa”, ông Thạch nói. Hiện viện Sinh học nông nghiệp đã xây dựng nhà kính ươm tạo giống cây trồng bằng công nghệ khí canh. Công nghệ này cũng đang được triển khai ươm giống cho hoa, khoai tây Đà Lạt. “Đã có đơn vị trong nước đặt hàng lấy hàng triệu cây giống rồi…”, ông Thạch tiết lộ.

Anh Kiệt

Trồng cây trái vụ quanh năm

Ngoài khoai tây, viện Sinh học nông nghiệp còn nhân giống cà chua, dâu tây, ớt ngọt, hoa cẩm chướng… bằng công nghệ khí canh. Công nghệ khí canh còn giúp tạo ra những cây trái trái vụ cho giá trị kinh tế cao. Trước đây, nghiên cứu cho thấy ở miền Bắc nếu trồng cây vụ đông vào mùa hè gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của nhiệt độ bên dưới mặt đất. Nhưng với công nghệ khí canh có thể sử dụng dung dịch làm mát để trồng các loại cây xứ lạnh trong thời tiết mùa hè ở miền Bắc, cũng như trồng các loại cây chỉ quen thời tiết Hà Nội ở TP.HCM…

Theo SGTT

Các cụ Rùa và những tai nạn thương tâm

Đúng lúc “cụ đang dạo phố” thì mấy thanh niên đi qua nhìn thấy đã thay nhau trèo lên lưng cụ bắt “cụ”… phi nước đại.

PGS-TS Hà Đình Đức với niềm đam mê rùa “ngồ ngộ” của mình, cứ kể mãi với tôi chuyện mấy người trẻ đã xơi tái “cụ rùa” Hồ Gươm.

Hồi ấy, vào khoảng năm 1963, trời mưa to, nước ngập, một “cụ rùa” hứng chí muốn ngắm phố phường Hà Nội, đã bò lên vườn hoa Chí Linh. Đúng lúc ấy, mấy thanh niên đi qua nhìn thấy đã thay nhau trèo lên lưng cụ bắt cụ… phi nước đại.

“Cụ rùa” phơi nắng và nhắm mắt ngủ ngon lành trên bãi cỏ.

Chở mấy thanh niên nghịch ngợm một lúc thì “cụ” mệt, nằm thở phì phò. Không còn sức chống cự, mấy anh chàng bám một bên mai vật ngửa “cụ”, rồi hè nhau khiêng về mổ thịt, đem xương đi… nấu cao! Mấy người này, ông Đức thường gọi họ là mấy ông “ăn thịt di tích”!

Ngược dòng thời gian vào năm 1945, đúng dạo nước sông Hồng lên cao, mưa lớn ngập khắp phố phường Hà Nội, một “cụ rùa” đã bò lên phố Lê Thái Tổ. Mấy ông chạy xe ba gác nhìn thấy con “ba ba” khổng lồ liền đuổi theo tóm lại rồi khiêng lên xe ba gác chở về… nấu chuối xanh. Cũng may mà chính quyền đuổi theo đòi lại được. Nhưng số phận “cụ rùa” này đến nay vẫn là một ẩn số.

Sau đó hơn chục năm, vào năm 1956, bão gió, lụt lội khắp phố phường Hà Nội, một “cụ rùa” lại mò lên đền Hàng Trống. Một ông đạp xích lô đâm phải gã chỏng vó. Tức mình, ông ta hô người khiêng “cụ” lên xe, kéo về phố Hàng Hành.

Thi thoảng “cụ rùa” lại nổi.

Người ta dùng thừng thít cổ cụ, treo lên xà nhà để chuẩn bị chọc tiết, xẻ thịt như mổ heo trong nhà máy bên Tây. Cũng may mà quần chúng phát hiện báo công an giải cứu “cụ rùa” đúng lúc cụ đang ngắc ngoải. Do “cụ” yếu quá, nên người ta thả cụ vào ao bán nguyệt trong Vườn Bách Thảo.

Sau vụ “cụ rùa” bị đâm chết bằng xà beng năm 1967, người ta chỉ còn thấy hai cụ rùa nữa mà thôi, một cụ rùa khổng lồ là “cụ bà”, nặng đến 2 tạ và một “ông rùa” chưa đến một tạ, nhỉnh hơn bánh xe đạp một chút. Theo dự đoán của một số người, có thể “ông rùa” nhỏ này chỉ là hàng cháu chắt của “cụ rùa” khổng lồ kia.

Nhưng đau xót thay, năm 1997, PGS Hà Đình Đức đã phải viết “huyết thư” gửi ông Võ Văn Kiệt và các cán bộ chủ chốt của Hà Nội. Thư rằng, một “cụ rùa” đã bị đả thương rất nặng. Theo như mô tả của ông Phùng Quang Bỉnh, đội trưởng đội bảo vệ trật tự an ninh khu vực Hồ Gươm, thì “ông rùa” có cái mai bằng vành xe đạp bị thương nặng, vết thương lở loét, trắng bợt ở phần mai và chân trái.

“Cụ rùa” trong đền Ngọc Sơn.

Không hiểu “ông rùa” kia bị thương vì lý do gì, bị kẻ trộm đâm bằng đinh ba, hay móc vào lưỡi câu khổng lồ của bọn câu trộm, nhưng có một điều, từ bấy không ai thấy “cụ rùa” này nổi lên nữa. Bao nhiêu năm nay, dù có người nói nhìn thấy hai “cụ”, người thấy những 4 “cụ”, song ông Đức khẳng định chỉ còn một “cụ rùa” duy nhất.

Có thể nói, một thời Hồ Gươm có rất nhiều “cụ rùa”, nhưng giờ đây, người ta chỉ dám chắc chắn có một “cụ rùa” mà thôi. Thi thoảng, vào những dịp trọng đại, “cụ rùa” này hứng chí nổi lên, khiến bao trái tim người Việt lại bồi hồi xúc động.

Theo PGS Hà Đình Đức, Hồ Gươm nhỏ vậy, mà “cụ rùa” tồn tại được đến ngày hôm nay, sống thọ đến mấy trăm tuổi, ngoài nỗ lực bảo vệ của chính quyền và toàn thể nhân dân, thì “cụ” cũng phải tinh lắm.

Hàng trăm năm qua, không ít kẻ trộm nhòm ngó tìm cách làm thịt “cụ”. Rồi mấy chục năm trời, đến tận năm 1993, Quốc doanh cá vẫn còn kéo lưới ở Hồ Gươm, song “cụ rùa” vẫn thoát khỏi lưới vét cả ngần lần.

Thời đó, những người ở Quốc doanh cá chẳng ưa gì mấy “cụ rùa” Hồ Gươm, vì các “cụ” xơi mất không ít cá của họ. Rồi khi lưới mắc, các “cụ” dùng móng vuốt xe toạc lưới, thậm chí làm kênh lưới cho cá trốn thoát hết. Chẳng thế mà, hồi năm 1967, khi phát hiện một “cụ rùa” dính lưới, họ đã lấy xà beng đâm cụ chí chết, rồi khi tóm được cụ, thì liền gọi Công ty Thực phẩm đến định giá liền.

Rùa tai đỏ xuất hiện rất nhiều ở Hồ Gươm do người dân thả xuống.

Hồi năm 1992, ông Chử Văn Chừng (giờ là Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Môi trường độ thị), thuê 3 thợ lặn để vừa tóm “cụ rùa”, vừa tìm hiểu xem dưới lòng hồ có mấy “cụ rùa”. Việc bắt rùa là để bảo toàn tính mạng “cụ” trong quá trình nạo vét, hút bùn dưới đáy hồ. Những thợ lặn này được trang bị đầy đủ bình ôxy, kính lặn. Họ mang theo một cây gậy, đoạn dây thừng dài hơn 5m làm thòng lọng, rồi lặn xuống hồ càn quét suốt mấy ngày liền.

Thế nhưng, suốt mấy ngày lặn ngụp, dùng gậy chọc nát cả đáy Hồ Gươm, song tuyệt nhiên không thấy “cụ rùa” nào. “Cụ rùa” to như cái nong, bơi lội chậm chạp, bì bạch như vậy, lại sống trong cái hồ không phải lớn lắm, lại rất nông, mà những thợ lặn tìm mãi không thấy kể cũng lạ.

Theo ông Đức, loài rùa khổng lồ ở Hồ Gươm có 95% thời gian sống dưới bùn. Khi nằm dưới bùn, chúng thở rất ít. Chỉ khi cần thở, chúng mới nổi mình lên để lấy ôxy. Do đó, để tìm được “cụ rùa” không phải đơn giản.

Tôi rất ngạc nhiên khi ông Đức cho biết, vào mùa mưa, nước lớn, chỗ sâu nhất của Hồ Gươm chỉ là 1,4m. Mùa nước cạn, Hồ Gươm chỉ sâu chừng 1m mà thôi. Nhiều chỗ ven bờ, chỉ sâu 30-40cm. Thế nhưng, lớp bùn dưới đáy hồ lại sâu đến hơn 1m.

Hồ Gươm với vẻ đẹp thanh bình.

Lý giải chuyện Hồ Gươm mỗi này một nông hơn, ông Đức cho biết, ngoài việc rác rưởi, chất thải, rong tảo, lá cây trút xuống hồ, thì hiện tượng sụt lún, xây dựng quanh khu vực Hồ Gươm mới là thủ phạm chính biến Hồ Gươm thành đầm lầy. Việc người ta đóng cọc xây nhà cách Hồ Gươm hàng cây số, cũng có thể khiến lớp nền đất yếu dưới đáy Hồ Gươm trồi lên.

Những tòa nhà cao tầng quanh Hồ Gươm đang lún hàng ngày, rồi xe cộ trọng tải lớn chạy trên mặt đường, khiến đường lún xuống, cũng là tác nhân khiến lòng Hồ Gươm dâng lên. Và theo ông Đức, cứ với tình hình này, chỉ vài chục năm nữa, Hồ Gươm sẽ biến thành đầm lầy. Lúc đó, không hiểu “cụ rùa” sẽ sống ở đâu?

Sửa sang lại “ngôi nhà” cho “cụ rùa” là chuyện khoa học hiện đại làm được dễ dàng. Nhưng giữ được mạng sống “cụ rùa” để con cháu nhiều đời sau được chiêm ngưỡng “cụ” mới là điều mà các nhà khoa học cũng như người dân Việt Nam mong muốn.

Còn tiếp…

Theo Phạm Ngọc Dương, Tintuconline.