Thảm họa không mấy khi đổ ập xuống đầu..

Vương Trí Nhàn

“ Nắng, nắng rất dữ, cái nắng cháy da làm mất đi vẻ đẹp riêng của những con người xứ lạnh.”
“Bình minh không còn màn sương phảng phất bay qua cành cây ngọn cỏ.”
“Những dải hoa hồng hoang sơ, đẹp một vẻ đẹp kiêu sa, trước kia bốn mùa khoe sắc trên nhiều con đường ngõ xóm, nay không còn nữa.”
“ Những cây thông cổ thụ bị dọn sạch.”
“Trong các mảnh vườn riêng của từng gia đình ở đây, các loại sâu bọ kỳ lạ xuất hiện. ”
“ Nhiều người vào đây từ sau 1975 bắt đầu nhớ lại Đà Lạt ngày họ mới vào, nhớ tới Đà Lạt ngày xưa mà họ mơ ước. ”

Đà Lạt sẽ hết thông?

Đà Lạt sẽ hết thông?


(Trên đây là sự thay đổi môi trường Đà Lạt được bạn đọc Tuổi trẻ viết trong số báo ra 7-3 -07)
Sự thay đổi ở đây vậy là gây ấn tượng đậm và thật đáng lo ngại: đó là những biến động ở tận bề sâu của môi sinh, biến đổi về mặt khí hậu.

Đọc lên ai mà chẳng thấy đau lòng.

So với Đà Lạt, tình hình thay đổi các thành phố trong cả nước chưa nguy hiểm bằng. Có vẻ tình trạng ô nhiễm và sự biến đổi cảnh quan ở đấy là chấp nhận được. Ta dễ bỏ qua.

Nhưng chúng ta đã nhầm.

Đọc một tài liệu nghiên cứu về môi trường, tôi thấy một nhà khoa học bảo rằng cái đáng sợ nhất là những sự cố trường diễn, tức là những thay đổi theo hướng thoái hóa, tác động rất lớn, song rỉ rả mỗi ngày một chút, nên dễ lọt lưới, và khi nghĩ ra thì đã muộn.

Ví dụ như ở Hà Nội. Hà Nội rãnh nước đen ngòm chảy bên lề đường phố cổ và chuột chết vứt cho xe kẹp. Hà Nội nhà xây cái cao cái thấp, cái lai tàu cái lai tây, lô nhô loạn xị và cây xanh bị triệt hại để lấy chỗ bán hàng. Hà Nội nắng hanh đường quẩn đất bụi. Hà Nội những tầng nước ngầm trong lòng đất bị tàn phá, một số giếng đào lên nước không dùng được. Hà Nội người ném rác hàng ngày xuống sông Hồng. Hà Nội không còn vỉa hè và thanh niên không biết thế nào là niềm vui đi bộ.

Chỉ cần so với Hà Nội 1954, hoặc Hà Nội trước 1975 thôi thì đã có bao điều tốt đẹp mất đi mà nếu thành tâm yêu Hà Nội người ta phải lấy làm tiếc. Và lo lắng nữa.

Báo chí gần đây có nhiều bài đả động đến những biến động nho nhỏ . Hoặc là rầy nâu tấn công Cao Lãnh, thị xã của tỉnh Đồng Tháp. “Rầy bay đầy đường như trấu, rầy bu đen kín các bức tường. Rầy đi thành từng đám như một lớp sương, người đi đường không thể đi được nên tấp vào quán để trốn rầy”. Hoặc là muỗi ở huyện Bình Thạnh TP Hồ Chí Minh “cứ khi trời sập tối là muỗi dày ken đặc, 10 phút quơ được một muỗng canh muỗi” ( Nông thôn ngày nay 19-3-07)

Đó chính là dấu hiệu của những sự cố trường diễn. Sự thay đổi của khí hậu – như ta thấy phần nào ở Đà Lạt –chính là kết quả của những đổi thay ngấm ngầm như vậy. Nhìn rộng ra, người ta còn nói rằng tình hình ô nhiễm khói bụi ở khu vực Thái Bình Dương khiến cho nơi đây ngày càng xuất hiện nhiều hơn những cơn bão lớn…

Từ chuyện môi trường cây cối sâu bọ, tôi còn nghĩ đến những biến động sâu xa ở con người. Tình trạng trường lớp tồi tàn, bàn ghế không hợp lứa tuổi khiến cho tỉ lệ học sinh cận thị ngày mỗi cao. Xe máy chen chúc trên đường, phố xá ồn ào, khiến con người giờ đây “ăn sóng nói gió “ hơn bao giờ hết. Những khó khăn trong cuộc sống gậm nhấm mỗi ngày một ít, sự bươn trái kéo dài, giờ đây chả thấy ai nhường ai, nghĩ mãi về người quen không biết ai đáng gọi là dịu dàng hiền hậu.

Thậm chí nét mặt con người nữa.

Những khi đang đi gặp phải đèn đỏ, tôi nhìn chung quanh, sao thấy mặt mũi người nào trên đường cũng căng thẳng và đầy chất sát phạt. Tham vọng ghê gớm. Khao khát khẳng định. Ham hố sống, hưởng thụ … Tôi chưa tìm ra được chữ nghĩa cho chính xác, nhưng hình như có tất cả những cái đó trên nhiều khuôn mặt tôi gặp hàng ngày, quen cũng như lạ.

Lại nhớ những con người của cái thời tiền chiến đọc được trong những truyện ngắn Thạch Lam,Thanh Tịnh, hoặc hiện lên trong tranh Nguyễn Phan Chánh. Lại nhớ những bức ảnh chân dung tập thể bày ở các bảo tàng hoặc trong một số sưu tầm ảnh đây đó. Có phải là chúng ta đã thay đổi đến khó ngờ? Thời gian mang lại cho con người rất nhiều nhưng cũng lấy đi rất nhiều. Không thể luyến tiếc, nhưng phải nhở rằng nhiều cái tốt đẹp đã bị đánh mất.

Theo Blog Vương Trí Nhàn

Bước chậm lại

Đi bộ là thói quen mà tôi tập được trong thời gian ra nước ngoài sống và đi học. Nói vậy dễ bị bắt bẻ. Vậy chứ ở Việt Nam không có người đi bộ sao?

Dĩ nhiên, xứ mình có nhiều người đi bộ. Ở nông thôn, có lẽ việc đi lại vẫn trông cậy chủ yếu vào đôi chân mỗi người. Mà ở thành thị bây giờ, phong trào đi bộ như một phương pháp thể dục cũng ngày một thịnh hành. Nhiều người Việt rõ là không cần đi xa mới biết đibộ. Hoàn toàn đúng. Đây là tôi nói về đi bộ như một thói quen, được hình thành trong hoàn cảnh đặc biệt.

Cho đến trước khi lên đường đi xa, hầu như mọi sự di chuyển ở thành phố tôi sống đều đặt trên hai chiếc bánh xe gắn máy. Ra khỏi nhà, dù ra đầu ngõ mua một cây kem, hay ra ngoại ô, thậm chí ra biển nghỉ cuối tuần, động tác mặc nhiên của tôi là ngồi lên xe máy. Trên xe, hang cùng hẻm cụt  nào cũng đến nơi. Chân trời góc biển nào cũng (tưởng ) tới được tuốt. Khi phải di chuyển một cây số, thậm chí vài trăm mét, mà không có sẵn xe thì kể như “bó chân”, bởi nghĩ thả chân ra cho chúng đi thì…cực quá. Mà cũng không thể trách được. Vài trăm mét mà đi trong nắng đổ lửa, hay vỉa hè không có chỗ đặt chân, phải chen lấn với xe cộ dưới lòng đường, thì đi bộ có thể trở thành ác mộng. Và điều quan trọng nữa: thì giờ đâu mà đi bằng chân như thế?

Tôi đi học xa. Muốn di chuyển trong một khuôn viên đại học (Campus) ở Mỹ chẳng hạn, không lựa chọn nào khác hơn đi bộ. Một campus có thể rộng lớn như thành phố nhỏ, với hệ thống xe buýt nội bộ và nhiều bãi đậu xe hơi. Sinh viên sống ngoài campus có thể đi xe buýt công cộng hoặc lái xe riêng đến trường, đậu xe trong bãi, rồi đi bộ hay đón xe buýt nội bộ để đi lại trong campus, nơi hạn chế xe hơi. Một viện đại học thường có mấy chục đến cả trăm toà nhà. Mỗi toà nhà rộng lớn đã đành, lại còn cách nhau bởi bãi cỏ, sân gạch, thảm hoa, bồn phun nước. Và sinh viên chỉ có thể đi bộ, hoặc xe đạp, từ toà nhà này qua toà nhà kia. Trường nhỏ, hoặc ở thành phố nhỏ thì campus có thể nhỏ. Nhưng phần lớn, campus các đại học tiểu bang rất rộng.

Và ngày nào tôi cũng phải đi bộ. Từ trạm xe buýt nội bộ, ngừng trước thư viện đến lớp học, căn tin, nhà thể thao, trụ sở hội sinh viên, nhà hát, phòng thí nghiệm, các thư viện. Lúc đầu, đó là cách di chuyển đương nhiên, khi mọi người đều làm vậy, mình phải làm vậy. Làm, mà vẫn thầm tiếc…cái xe gắn máy  của mình bị nằm xó ở quê nhà, trong khi mình ở đây phải cuốc bộ rã cẳng. Không quen, thậm chí trước đây chưa từng đi bộ những quãng đường xa cả cây số như vậy, tôi ngán ngại lắm khi phải di chuyển. Những khi trời có gió, rất lạnh, nỗi lo sợ di chuyển càng lớn hơn. Chưa kể, tôi còn bị đau chân vì đôi giày cao gót. Xin nói thêm, đôi giày này cũng thuộc về thói quen mang theo từ quê nhà.

Rồi, cũng như mọi quá trình sống, khi không có sự lựa chọn nào khác, thì mình buộc phải thích nghi. Sau một thời gian, tôi sắm đôi giày đi bộ. Đi quen chân, tôi mới hay một nửa nỗi đau khổ của mình từ hôm nhập học tới nay là do mang giày không phù hợp. Mới biết tại sao những người khác đều mang giày thiết kế thuận lợi để đi bộ. Chẳng mấy chốc tôi cũng đi đứng thoải mái như dân sinh viên địa phương, chứ không còn được nhận diện ngay là khách nước ngoài mới đến vì cách đi đứng trên đôi giày cao gót. Tôi cũng đi mỗi lúc một nhanh mà không hay. Trước kia, giày cao gót, tôi đi chậm và mau mệt. Sau này, bị cuốn vô nhịp sống campus rồi, đâu còn rảnh rỗi thong dong, tôi đi như chạy. Hoá ra, tôi khoẻ, và có thể chuyển động rất nhanh. Những đợt hè về Việt Nam, đi chung với bạn bè cũ, tụi nó đều than rằng tôi đi gì mà như bị ma đuổi.

Và tôi đã quen với niềm vui mới: đi bộ. Nếu trước kia, đi chơi tức là phải đến một nơi nào đó, làm một điều cụ thể gì đó  như ăn kem hay xem phim, thì nay đi bộ chơi, tức là đi dạo, cũng là niềm vui rồi. Như mọi người sống quanh mình, khi đi dạo, tôi cũng bước nhanh. Mùa mới sang, là đổi màu, trời lành lạnh, khoác áo quàng khăn đi dạo là một cái thú tuyệt trần. Những lối mòn dành cho người đi dạo xuyên qua những rừng cây đẹp như tranh, không khí vô cùng lãng mạn. Những người chung quanh đi ào ào. Nhiều người đeo cái máy đo đếm nhịp bước chân, những người trẻ thì đeo loa trong tai để nghe nhạc. Bỗng, giữa những nhịp bước hối hả ấy, tôi đi chậm lại.

Trong rừng, vừa hiện ra mấy con nai. Chúng chẳng sợ hãi điều gì đâu, mà dạn lắm, thong thả tiến đến gần người. Chúng nhìn tôi, như bảo rằng, chỉ có tôi mới là kẻ ngác ngơ và lơ tơ mơ đấy nhé. Tôi đưa tay, chạm vào cái mũi ươn ướt của chú nai. Vài người đang rảo bước chung quanh cũng bước chậm, rồi dừng hẳn, đứng cạnh bên tôi. Sự tiếp xúc với một sinh vật sống động. Một khoảnh khắc dừng khựng không hề định trước giữa nhịp chuyển động tất bật và tất bật. Sau khoảnh khắc dừng lại giữa khu rừng ấy, một lần nữa, giống như khi tôi nhận ra mình có thể đi bộ, tôi đã được thêm trải nghiệm mới: Tôi sẽ nhận thêm nhiều thứ khác, giản dị nhưng thật qúy giá, khi tôi biết dừng lại. Những lần đi dạo sau, tôi bước thong thả hơn, để cảm nhận trọn vẹn không gian quanh mình. Không có âm thanh  gì tuyệt vời hơn tiếng lá kêu lạo xạo dưới chân. Tiếng gió thổi vi vuy qua những cành cây run rẩy. Và tuyệt nhất, chính là sự lắng lại của chính tôi giữa thiên nhiên trong lành.

Về Việt Nam, cuộc sống lại bận rộn, có khi còn hơn thời đi học. Nhiều hôm, bạn bè rủ từ cơ quan ra tiệm cơm trưa, cách 500 thước, mà phải bố trí ai chở ai, mượn nón bảo hộ. Rắc rối quá, tôi nói tôi đi bộ, bạn nói “khùng sao?” và gọi taxi. Vậy đấy, muốn sống chậm, không dễ dàng đâu. Thế nhưng, đôi khi buổi sáng, tôi vẫn đứng một mình bên ban công nhà. Hít thở không khí ban mai. Và chậm rãi nghĩ về một ngày đang tới.

  • Theo Lý Lan ( SVVN)

Chọn lựa

Ký của Nguyễn Thị Đức Tín

“Hai mươi năm nay, em đã làm gì?”. Sao anh lại hỏi em như thế, anh đã biết là 20 năm nay anh em làm bác sĩ mà? Hơn thế nữa, gần hai mươi bảy năm rồi, cái áo blouse trắng, mùi alcool, cái ông nghe muôn đời trên cổ, tiếng khóc, tiếng rên, tiếng thở khò khè, đôi mắt mệt mỏi, vẻ mặt nhiễm trùng, ánh nhìn cầu khẩn của bệnh nhân đã chẳng đeo đuổi theo em đó hay sao? Làm sao em kể hết cho anh nghe, làm sao em có thể thống kê được nổi khổ của bệnh nhân trong bệnh viện cũng như niềm vui của họ, của gia đình ngày xuất viện lành lặn, khỏe mạnh trở về? Làm sao bao thăng trầm, bao lo âu, bao vùi dập cũng như bao hạnh phúc, bao vinh quang của nghề nghiệp em có thể kể hết được cho anh…

___________

Mười tám tuổi, la vie en rose (Cuộc đời màu hồng, tên một bộ phim Pháp) tôi chỉ ngó về phía trước. Tú tài vừa đậu, sẽ vào đại học nào đây? Cột mốc nào sẽ cắm nơi đây, để cho con đường đời thẳng tắp, thênh thang, hay lại có 1 lối rẽ, hay lại lâm vào con ngõ cụt ? Bao nhiêu là mô ước: Làm văn sĩ, làm thi sĩ hay làm phóng viên, luật sư…?

“…” Tôi vẫn đi đến cô nhi viện ở Gò Vấp mỗi chủ nhật, cắt móng tay, hớt tóc, tắm rửa với một chút quà cho các trẻ bị bỏ rơi…Thế rồi, một sáng chủ nhật đi về Long Anh câu cá, buổi chiều trên đường về, trước mặt tôi là một tai nạn kinh hoàng vừa xảy ra trong chớp mắt: chiếc xe đò cán một phụ nữ nát hết phần đầu, máu, tóc, da và óc văng nhầy nhụa mặt đường. Bài học 5 năm trước lúc tôi 13 tuổi lập tức hiện ra khi thấy cái bụng bầu to đùng của người chết nằm kia nhúc nhích một chút; bài học ở Hội Hồng thập tự mà một anh nội trú y khoa đã dạy:”Bằng bất cứ cái gì, phải đem đứa bé ra khỏi bụng mẹ, vì nó chỉ có năm, sáu phút ân huệ của đời khi mẹ nó vừa mất”. Hình hài nát vỡ đầu kia, đâu còn gì nữa ngoài cái thai còn sống? Tôi đã rạch bụng người thiếu phụ chết thảm đó bằng con dao xẻ thơm Bến Lức bán ở dọc đường.

Tôi đã mổ bụng một người bằng đôi tay trần, bằng một con dao gọt trái cây, và bằng kí ức về bài học y tế sơ cứu, bằng những gì đã thấy qua bộ phim Helga đã được xem, nói về sự ra đời của một đứa trẻ…

Đứa bé ra khỏi bụng mẹ òa lên khóc liền, dây rốn còn lòng thòng, tử thi người mẹ, đứa con và tôi đã ngồi xe lam để đến bệnh viện. Tôi đã xúc động biết bao vì sự kì diệu đã xảy ra, một mạng sống đã được cứu thoát từ đôi bàn tay vấn máu của tôi. Có phải ông trời đã sắp đặt cho nghề nghiệp của mình? Tôi thi y khoa và đậu ngay (dù gần…chót bảng). Tôi đã bỏ 2 suất du học vì đã lỡ đậu vào trường đại học y khoa ở Việt Nam rồi. Ngày tiễn bạn lên đường, về ngồi ở thư viện Abraham Lincoln trên đường Lê Quý Đôn, nghe tiếng phản lực vút qua, như có một mất mát trong lòng. Nước mắt rơi xuống trang sách, trái tim mềm ra, trong một nuối tiếc khôn nguôi. Có phải vậy hay không, người đi một nửa hồn tôi mất, một nửa hồn kia bỗng dại khờ ?… Có dại không, khi đứa con gái nặng ba mươi ba kí lô vào trường đại học, lần đầu tiên trong đời ôm cái sọ người, ôm khúc xương tibia học từng cái mấu nhỏ, vẫn cứ tưởng đó là xương nhựa, ngờ đâu xương người thật, quăng vội cái đầu lâu đi vì quá sợ. Sau đó, hối hận, khóc suốt đềm. Rồi mổ xác chết, rồi mân mê từng thớ cơ, xẻ trái tim ra để học mọi ngóc ngách, thám hiểm những buồng tim, mà vẫn chưa biết trái tim mình có cái gì, có ai ở trong đó… Nhớ lần đi thực tập ở nhà thương Chợ Rẫy, mà người ta gọi là nhà thương thí, vì không phải trả tiền nằm viện, điều trị…tôi phụ trách 2 giường, làm những việc như là một hộ lý vậy: bắt giòi, lau mình, canh chừng chai nước biển đang truyền cho bệnh nhân…Chiến tranh, và nhà người nông dân ở Đà Nẵng này bị bom chết cả nhà. Chuyển vào Sài Gòn, ông bị hôn mê do chấn thương não, chỉ nằm thở, bị escare, loét xương mông, và mỗi ngày tôi phải lấy nhíp gắp giòi ra, nhỏ thuốc sát trùng…

Mũi kim chích đầu tiên, chích trên hai miếng mousse của búp bê nhựa, sau đó chích cho người bị hôn mê. Ba tháng thực tập, sau ngày thứ năm mươi, người đàn ông bất hạnh đó mở mắt ra, mấp máy đôi môi, hỏi “vợ tôi đâu, con tôi đâu?” cùng với 2 dòng nước mắt lăn dài trên đôi má hóp. Và tôi biết, cuộc đời mình sẽ mãi dính liền với cái giường sắt lạnh lẽo, với mùi máu tanh nồng, với tiếng rên cố nén lại và với những dòng nước mắt. Tôi biết, và đã hiểu hết ý nghĩa của mấy từ công tác xã hội, hiểu rõ những nỗi đau thể xác và cảm nhận được cả nỗi đau tinh thần, nỗi mất mát từ trong trái tim con người. Rồi tôi cũng cảm nhận được thế nào là sự đồng cảm, sự xoa dịu của mình đối với người bệnh bất hạnh đầu tiên trong cuộc đời y khoa của mình khi bàn tay liệt rũ xuống, còn bàn tay kia nắm lấy tau tôi thật yếu ớt, thật mỏng manh mà lại tin yêu biết chừng nào… Tôi vẫn ghé qua thăm ông, sau đó bệnh nhân xuất viện, có lẽ về quê. Mười lăm năm sau, tôi có dịp đi Đà Nẵng, qua bãi biển Non Nước, lên núi Ngũ Hành Sơn, đứng ở Vọng Giang đài, nhớ đến người đàn ông khốn khổ ấy. Con sông rồi có rẽ, có nhánh ngang nhưng rồi cuối cùng cũng đổ ra biển, còn cuộc đời con người, dòng chảy đó cuối cùng sẽ đổ về đâu? Có bác sĩ nào quên được bệnh nhân đầu tiên của mình đâu? Cho nên cảnh non nước đẹp như mơ mà lòng người vẫn thấy buồn…

(còn tiếp)

Xem phần 2