Nam Cực và những điều “tai nghe, mắt thấy”

Sáu thành viên Việt Nam tham dự đoàn thám hiểm Nam Cực đã trở về. Đoàn đã có những trải nghiệm và kế hoạch hành động thiết thực nhằm giúp hành tinh Trái đất không bị nóng ấm lên nữa do các loại khí thải từ công nghiệp phát ra.

Cô Hoàng Thị Minh Hồng, trưởng nhóm và là người Việt Nam đầu tiên đặt chân đến Nam Cực cách đây 12 năm, cũng trong đoàn thám hiểm do tổ chức 2041 tiến hành, cho biết những điểm khác biệt tại Nam Cực của hơn chục năm trước so với bây giờ:

“Trong chuyến đi Nam Cực năm 1997 tôi chỉ mang máy ảnh với phim thường, nhưng lần này mang theo máy ảnh kỹ thuật số và chụp được rất nhiều ảnh đẹp; chính mình cũng không hiểu tại sao lần này lại chụp được nhiều ảnh đẹp. Khi nói với ông trưởng đoàn Robert Swan, ông nói có nhiều ảnh đẹp là vì trên biển có nhiều tảng băng trôi. Lúc đó tôi mới chợt nhận ra là trên biển có nhiều băng trôi hơn ngày xưa.

Điều đó cho thấy băng ở Nam Cực đang bị tan ra do tình trạng trái đất nóng lên, điển hình ở Bán đảo Nam Cực, nơi mà trong 50 năm qua nhiệt độ đã tăng khoảng 3 độ C. Có tảng băng Larsen Bay bị vỡ hồi năm 2002 lớn bằng một tiểu bang ở bên Mỹ.

Một điểm khác nữa so với năm 97 là lượng khách du lịch. Hồi năm 1997, số khách du lịch đến Nam Cực rất ít nhưng lần này thì thấy đông. Chắc tác động của con người lên Nam Cực nay cũng lớn hơn so với 12 năm trước đây.”

Một thành viên khác của đoàn thám hiểm Nam Cực năm nay là cô Nguyễn Thị Phương Ngân, hiện là cán bộ giáo dục môi trường của tổ chức Quỹ Thiên nhiên Hoang dã tại Hà Nội cho biết những điều học được trong chuyến đi vừa qua:

“Tất cả những điều thấy trên Nam Cực đều giống như những điều tưởng tượng và những điều đọc được trên báo chí. Tuy nhiên, có một điểm là tôi tưởng Nam Cực lạnh lắm nhưng khi đến nơi thì không lạnh như mình tưởng, chỉ -2 đến -7 độ C mà thôi. Độ ẩm ở Nam Cực thấp, không lạnh buốt như ở Việt Nam, điều này khiến tôi ngạc nhiên nhất.

Tôi mới đến Nam Cực lần đầu tiên nên không có sự so sánh, thế nhưng những người phụ trách đi trong đoàn từng thám hiểm Nam Cực nhiều lần chỉ cho chúng tôi thấy những thay đổi so với 20 năm, 10 năm trước đây. Có những nơi đổ bộ lên bờ thì họ cho biết là cách đây 20 năm băng đến tận ngay chỗ chúng tôi đứng, nhưng nay thì băng cách đó đến chừng 500 mét.

Kế hoạch bảo vệ môi trường

Sau khi trở về, vào ngày 9 tháng 12  vừa qua, đoàn tổ chức họp báo để trình bày kinh nghiệm chuyến đi, cũng như đưa ra những kế hoạch nhằm giúp cộng đồng tại Việt Nam chung tay góp phần bảo vệ môi trường.

Rất nhiều người cho rằng việc bảo vệ môi trường là việc làm của chính phủ, của các tổ chức bảo vệ môi trường chứ không phải là việc của từng cá nhân. Trong khi đó thì bảo vệ môi trường là lối sống, thói quen của từng người. Cô Hoàng Thị Minh Hồng giới thiệu những chương trình hành động:

Chúng tôi muốn thực hiện một website về bảo vệ môi trường, trong đó ngoài những thông tin liên quan môi trường, những hoạt động đang diễn ra trên thế giới thì còn có những hướng dẫn cụ thể dưới dạng những tít rất nhỏ ví dụ như ‘Bạn có thể dùng son môi loại gì để bảo vệ môi trường’.

Nhóm có những chiến dịch làm việc với các siêu thị, các công ty, các cửa hàng bán lẻ để họ không dùng túi ny lông nữa. Chẳng hạn, tiến hành chiến dịch kêu gọi người dân giảm máy lạnh một độ C. Tất cả sẽ cụ thể như ‘Chiến dịch Giờ Trái đất’ là mỗi người tắt đi một ngọn đèn hay một thiết bị điện không cần thiết. Nói chung những việc làm đều xoay quanh những việc làm rất là nhỏ như thế.

Nguyễn Thị Phương Ngân thì đề cập đến những trở ngại cho công tác bảo vệ môi trường tại Việt Nam, nhất là cho các kế hoạch của nhóm cần phải vượt qua:

“Trở ngại lớn nhất là nhận thức của người dân mình. Có thể họ biết điều gì đang gây ra ảnh hưởng đến môi trường nhưng rồi do thói quen đã  ngấm sâu nên để hành động thay đổi thì rất là khó.

Nhà nước từng kêu gọi tiết kiệm điện bằng cách tắt đi những thiết bị không cần thiết, hay tắt đèn khi ra khỏi phòng, hay tắt ‘điều hòa’ ( máy lạnh) 30 phút trước khi ra khỏi phòng…

Chúng tôi tự nhủ với nhau để giúp thay đổi nhận thức cần kiên trì, đòi hỏi thời gian lâu dài. Chúng tôi hy vọng vào thế hệ tương lai, thế hệ trẻ sẽ có nhận thức tốt hơn.

Năm cá nhân chúng tôi hành động với nhận thức là bất cứ ai cũng có thể tạo ra thay đổi nếu mình cố gắng, tin tưởng. Chúng tôi có nhiệt huyết và tranh thủ sự ủng hộ của truyền thông. Còn để giải quyết vấn đề môi trường hay bất kỳ vấn đề nào đó thì cần sự chung sức của nhiều người và sự tham gia của các cơ quan chức năng.

Chuyến thám hiểm Nam cực vừa qua kéo dài từ ngày 18 đến 31 tháng 11, và đoàn Việt Nam sáu người về nước hồi ngày 4 tháng 12.

Chuyến đi do tổ chức có tên 2041 tổ chức để kỷ niệm 50 năm ngày ký kết Hiệp ước Quốc tế về Nam Cực. Tổ chức này do ông Robert Swan, người Anh, sáng lập với mục tiêu nhắc nhở thời điểm năm 2041 là năm mà Nghị định thư về Bảo vệ Môi trường theo Hiệp ước Nam Cực có thể bị bổ sung hay hiệu chỉnh. Tổ chức 2041 nêu rõ tiếp tục nỗ lực bảo vệ Hiệp ước Nam Cực, không để cho khu vực này bị khai thác gây ảnh hưởng đến môi trường trái đất.

  • Theo RFA
Advertisements

Tương lai mọi cái sẽ tốt lên!

Một trong những đức tính tôi luôn có dịp nhận thấy ở người Việt Nam, đó là họ có một niềm tin đặc biệt tích cực vào tương lai. “Mười năm nữa, mọi thứ sẽ tốt hơn”, bạn có thể nghe ví dụ như vậy. Hoặc thỉnh thoảng: “Năm năm nữa mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn” hay “Hai mươi năm nữa mọi thứ sẽ tốt hơn lên.”

Những câu nói như vậy thường nổi lên, ví dụ như, khi người ta bàn luận về tình trạng giao thông. Hoặc về sự ô nhiễm môi trường. Hoặc về đói nghèo. “Hai mươi năm nữa, chúng tôi sẽ có một hệ thống giao thông cực tốt và có trật tự như ở châu Âu!”, người tiếp chuyện với bạn sẽ nói như vậy chẳng hạn, và sau đó gương mặt anh ta ngời sáng lạc quan. Khi mà ngay trước đó, anh ta vẫn đang buồn rầu bực bội, cho rằng giao thông ở Hà Nội hỗn loạn và luôn luôn tắc đường. Nhưng chậm nhất là hai mươi năm, khi có đủ tiền, và kinh tế phát triển, tất cả đường phổ rộng rãi hơn, Hà Nội có tàu điện ngầm mới toanh và hiện đại, ai cũng đi xe ô tô, khi đó tất cả mọi thứ sẽ tốt hơn.

Điều này, một mặt, đó là một đức tính rất đáng ngưỡng mộ. Đặc biệt khi một so sánh với người Đức, là những người lúc nào cũng luôn tin rằng năm tới tất cả mọi thứ sẽ tồi tệ hơn. Cũng giống như, quả đúng là tất cả mọi thứ năm này đều tồi tệ hơn nhiều so với năm trước.

Tuy nhiên, đấy cũng là một đức tính có chút gì đó đáng lo ngại, bởi vì nó dẫn tới một tác động ngược, nghĩa là sẽ chẳng có ai cảm thấy phải cố gắng để làm cho quả thực mọi cái sẽ tốt hơn. Tôn trọng luật giao thông? Hạn chế xài túi nilon? Hạn chế việc xả rác? Để làm gì, khi mà hai mươi năm nữa đằng nào mọi thứ cũng đều tốt hơn. Khi mà tất cả chúng ta đều giàu có. Dĩ nhiên sẽ nảy sinh ra câu hỏi, ở đâu trong vòng hai mươi năm nữa bất chợt nảy sinh ra một thế hệ những con người có đạo đức và đi xe trên đường phố theo đúng luật quy định, nếu như NGAY TỪ BÂY GIỜ khi họ đang còn là trẻ nhỏ đã học được những điều ngược lại: Chỉ những ai vị phạm càng nhiều luật lệ họ mới có thể đến được nơi mình muốn đến.

Về mặt này những người Đức kỹ tính dĩ nhiên đã đi trước một bước: không có niềm tin sâu sắc, rằng việc vượt đèn đỏ là điều báo hiệu sự sụp đổ của phương Tây, và ngay ngày mai tất cả các thành phố có thể sẽ phải chết một cách đau khổ trước mối hiểm nguy từ những hạt bụi siêu nhỏ, tất nhiên sẽ không dễ dàng gì trong việc làm theo những quy tắc nghiêm ngặt tương ứng. Điểm nhấn mạnh ở đây đó là việc hiện thực hóa, bởi vì ở Việt nam thực ra đâu có thiếu các quy định và luật lệ. Chính thức mà nói, tất cả mọi thứ xảy ra trên đường phố ở đây gần như đều bị cấm, và theo như hiểu biết của tôi, luật môi trường của Việt Nam thuộc vào loại nghiêm khắc trên thế giới. Chỉ có điều chẳng hề có ai quan tâm đến.

Đồng thời sự lạc quan về tương lai của nhiều người Việt Nam cũng có thể giải thích được, nếu người ta nhớ rằng suốt trong 30 năm qua, trên thực tế, mỗi ngày mỗi một thịnh vượng hơn, và nhiều vấn đề tự nó đã biến mất. Các bước nhảy vọt mà đất nước này đã làm được kể từ cuối thập niên 80 đến nay, đối với người châu Âu có lẽ họ sẽ không tưởng tượng nổi.

Mặc dù vậy, tôi vẫn nghi ngờ không biết liệu Hà Nội trong vòng 20 năm nữa có thực sự trở thành một dạng Singapore của người Việt. Với những con đường, mà người ta có thể ăn uống bên cạnh đó, những con đường trên đó các phương tiện giao thông nhẹ nhàng và thông suốt lướt đi, và nơi mà cứ cách 50 mét lại có một trạm xe buýt tại đấy khách đi xe có thể trả tiền bằng thẻ chip. Mặt khác, bản thân người dân ở Singapore cũng đã nói, rằng trước kia tất cả mọi thứ cũng rất hỗn loạn, và giờ đây họ không thể biết chính xác liệu con gà có trước hay quả trứng có trước: Trước tiên là có sự giàu có, và chỉ sau đó mới là tử tế và kỷ luật? Hoặc sự giàu có có được là do trước đó đã có ít nhiều tử tế và kỷ luật?

Số đông người Việt Nam rõ ràng đã tin vào cái đầu tiên, còn người Đức có lẽ sẽ ủng hộ nhiệt liệt cái thứ hai.

Hai mươi năm sau tôi sẽ quay lại đây lần nữa, và sẵn sàng đánh cược về thời gian này.

frogier.de
Bums chuyển ngữ

“Lá phổi xanh” thành “quả thận nhỏ”?

Quanh khu vực này, chỗ nào cũng thấy ngổn ngang gạch cát như một công trường xây dựng hoành tráng. “Lá phổi xanh” hồ Phùng Khoang sau này sẽ trở thành khu nhà ở và cao ốc chung cư, chỉ còn lại phần hồ cỏn con… hình quả thận.
Xây dựng vành đai xanh với điểm nhấn là các con sông, hệ thống hồ điều hòa là một trong những nội dung được nhấn mạnh trong bản báo cáo lần 3 về Quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.

Trong khi bản quy hoạch này đang tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện thì nhiều hồ tại Hà Nội vẫn đang bị xâm lấn, lấn chiếm trầm trọng, thậm chí người ta còn cho lấp hồ để làm dự án nhà ở…

“Lá phổi xanh” thành “quả thận nhỏ”?
Cùng với các hồ trong khu vực, hồ Phùng Khoang (còn gọi là hồ Trung Văn) đang trong cảnh bi thảm vì phần lớn diện tích hồ đang bị dự án khu đô thị Phùng Khoang “thôn tính”.

Cấp tập san lấp hồ Phùng Khoang để làm dự án nhà ở.

Theo số liệu của UBND xã Trung Văn (huyện Từ Liêm) diện tích hồ Phùng Khoang khi chưa bị thu về dự án là khoảng 16 ha mặt nước. Trước đây, toàn bộ diện tích này được giao cho hợp tác xã Thống Nhất thuộc thôn Phùng Khoang quản lý, làm hồ thả cá, hàng năm thu lợi một phần đóng góp vào hoạt động chung của thôn, một phần chia đều cho bà con xã viên thôn Phùng Khoang.

Đến đầu năm 2007, số phận của hồ Phùng Khoang “đã được định đoạt” bởi quyết định số 18/2007/QĐ – UBND của UBND thành phố HN về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết khu đô thị mới Phùng Khoang tỷ lệ 1/500.

Theo đó, phần lớn diện tích hồ sẽ bị lấp để xây dựng khu đô thị. Đến ngày 18/3/2009, UBND thành phố HN đã chính thức ra quyết định thu hồi gần 28 ha đất tại khu vực này (trong đó có toàn bộ diện tích hồ Phùng Khoang) để giao cho liên danh Tổng công ty đầu tư phát triển nhà HN và Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng đô thị (thuộc tập đoàn Nam Cường) thực hiện Dự án xây dựng khu đô thị mới Phùng Khoang…

Hồ Phùng Khoang những ngày này đang là một đại công trường san lấp quy mô lớn. Xưa kia, cả một khu hồ mặt nước mênh mông xanh biếc, không khí trong lành nay đang bị những đống gạch, đất, cát đổ ngổn ngang lấn vào giữa lòng hồ, bụi cát công trường bay mù mịt.

Xót xa khi thấy cả một khu hồ rộng đang bị lấp dần để làm dự án nhà ở

“Còn đâu cái hồ rộng để cho người dân được hưởng không khí trong lành nữa. Mai đây mặt hồ sẽ biến thành nhà ở và những tòa cao ốc chung cư”, bà Bạch Thị Loan, một người dân Phùng Khoang tỏ vẻ tiếc nuối cho số phận hồ Phùng Khoang.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, khu vực hồ Phùng Khoang không chỉ bị riêng dự án khu đô thị Phùng Khoang và đường Lê Văn Lương kéo dài lấp gọn, mà còn có sự đóng góp của một loạt dự án nhà ở khác của một số cơ quan Trung ương…

“Lá phổi xanh” hồ Phùng Khoang sau này sẽ trở thành khu nhà ở và cao ốc chung cư, chỉ còn lại phần hồ cỏn con... hình quả thận.

Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Quang Phú, Giám đốc công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng đô thị, một đơn vị trong liên danh được giao đất thực hiện Dự án xây dựng khu đô thị Phùng Khoang cho biết, hồ Phùng Khoang không mất hẳn khi thực xây dựng khu đô thị tại đây, mà chỉ bị thu nhỏ lại.

“Một phần hồ bị lấp để làm đường Lê Văn Lương kéo dài, làm nhà ở, phần còn lại chúng tôi xây dựng hồ điều hòa rộng 6,3 ha theo đúng quy hoạch mà UBND thành phố HN duyệt”, ông Phú nói.

Mặt nước “lá phổ xanh” hồ Phùng Khoang bị gạch đất san lấp không thương tiếc để làm dự án

Cũng theo giám đốc Phú, xung quanh 6,3 ha hồ điều hòa được giữ lại sẽ có hệ thống đường dạo, cây xanh, công viên và một khách sạn nhỏ, với tổng diện tích (tính cả hồ điều hòa) là khoảng 13 ha.

Mặc dù, việc có dự án về làng khiến cho bộ mặt thôn xóm, xã thay đổi không ít trong tương lai, nhưng nhiều người dân Phùng Khoang (xã Trung Văn, Từ Liêm) vẫn tỏ ra tiếc nuối, xót xa khi chứng kiến cả một khu hồ rộng mênh mông hàng chục ha đang bị san lấp.

Nhà bủa vây hồ
Sau nhiều năm bị chia năm xẻ bảy, một phần bị xẻ để làm đường, một phần bị xẻ làm bãi rác, một phần bị lấn chiếm… từ một hồ nước đẹp rộng hàng chục ha, diện tích còn lại của hồ Mễ Trì (huyện Từ Liêm) chỉ còn ngót nghét khoảng 5 ha.

Hiện hồ được giao cho tư nhân kè bờ, đắp đường ngăn làm nơi thả cá, nhưng giống như những hồ nước khác tại Hà Nội, nó vẫn không thoát khỏi cảnh bị nhà cửa, lều lán “nhảy dù” bủa vây, lấn chiếm tứ phía.

Khu đất ven hồ Mễ Trì (mạn đường Hồ Mễ Trì) bị xẻ làm những lô đất nhỏ cho thuê làm kho chứa hàng, than, phế liệu…

Phía Đông Nam hồ, giáp với đường Hồ Mễ Trì, một khoảng đất rộng hàng nghìn m2 được ngăn thành từng ô cho tư nhân dựng nhà, lán làm kho chứa hàng và vật liệu. Theo tìm hiểu của VietNamNet, cách đây chưa tới chục năm (khoảng đầu những năm 2000), bãi đất này vẫn là mặt nước hồ rộng mênh mông.

Tuy nhiên, cho đến nay, phần hồ giáp với con đường Hồ Mễ Trì đã bị san thành bình địa, lều lán, kho bãi mọc lên với tốc độ chóng mặt. Theo nhẩm tính của chúng tôi, chỉ riêng đoạn bờ hồ phía Đông Nam có tới gần chục lều, lán xâm chiếm làm kho bãi chứa phế liệu, chứa than, dịch vụ kinh doanh cây cảnh…

Bờ Tây Nam của hồ Mễ Trì là con đường đất nối đường Hồ Mễ Trì với đường Láng – Hòa Lạc, cũng chịu chung số phận bị xâm lấn bởi dãy lều, lán kéo dài hàng trăm mét. Theo quan sát của chúng tôi, đặc điểm chung của những dãy lều này là đều quay lưng ra hồ và giáp với lòng hồ, diện tích mỗi nhà lều chừng 40-60 m2.

Nhà, lán lều đua nhau bủa vây hồ Mễ Trì.

Kết cấu của chúng khá sơ sài, nền láng xi măng, xung quanh vây gỗ, liếp, mái lợp tấm xi măng… Có lều xây kiên cố hơn bằng hình thức ngoài quây liếp, bên trong xây tường gạch. Một số lều người ta sử dụng để nuôi gia súc, gia cầm… còn lại là những hộ gia đình đến ở, sinh sống với giường chiếu, bếp núc đủ cả giống như bất kỳ khu nhà “ổ chuột” nào của Hà Nội.

Trong những ngày có mặt tại khu vực này (trung tuần tháng 12-2009), chúng tôi chứng kiến hoạt động xây dựng, lấn chiếm hồ diễn ra khá sôi nổi. Khắp các ngôi nhà lán, lều và kho bãi ven hồ chỗ nào cũng thấy ngổn ngang gạch cát như một công trường xây dựng hoành tráng. Người ta xây tường, quây lán với tốc độ chớp nhoáng, chỉ trong một hai ngày những bức tường mới đã được dựng lên..,

Lấn chiếm hồ bằng cách dựng những ngôi nhà tạm lên

Theo bà H. một người bán quán nước tại khu vực hồ cho biết, hầu hết những dãy lều, lán quanh hồ này đều là người trong làng và một số người nơi khác đến “nhảy dù”, chiếm đất để ở từ vài ba năm nay. Gia đình của bà H. cũng là một trong số đó. Sau khi dựng lều, lán một phần họ làm chuồng trại chăn nuôi, một phần cho người lao động từ địa phương khác đến thuê ở với giá 5-700 nghìn/ tháng…

Những lô đất nhỏ cho thuê làm kho chứa hàng, than, phế liệu vốn là đất hồ

Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, ông Trần Trọng Hanh, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội cho rằng, việc hy sinh các hồ nước để thực hiện dự án phải được nghiên cứu, xem xét một cách cẩn thận.

Vì theo ông Hanh, ngoài vấn đề giúp cho không khí đô thị trong lành, các hồ nước tại Hà Nội còn đóng góp một phần quan trọng trong việc điều hòa lũ lụt, tránh cho HN lâm vào cảnh ngập lụt lịch sử như hồi tháng 11/2008.

  • Phú Nguyễn/VNN

Thói quen nhổ bậy

Tôi không đề cập đến những vấn đề “ cao siêu” như các bạn về tính cách con người, cách sống… mà chỉ muốn nói đến một trong những thói quen xấu xảy ra từng ngày, từng giờ ở xung quanh ta mà tôi chắc rằng hầu hết chúng ta đều chứng kiến- đó là thói quen nhổ bậy ra đường.

Thử nghĩ xem, khi bạn đang đi trên  đường, bỗng dưng ở đâu bay tới “ vài giọt nước mưa” từ  miệng của “ lão” đi trước. Lúc đó, phản ứng của bạn thế nào?

Tôi đã từng là nạn nhân của  thói quen này, và cảm thấy vô cùng bức xúc. Rất nhiều lần đi xe trên đường, “ tên “ đằng trước “nghẹo cổ” sang một bên khiến cho tôi không kịp tránh né. Tôi tự hỏi, không biêt  họ có thấy điều đó là vô căn hoá hay không? Có cảm thấy điều đó là xấu hổ  hay không khi mà họ ngang nhiên làm như vậy. Họ không cần quan tâm họ đang ở đâu, người đằng sau, người bên trái, bên phải họ là ai, đi gần đến họ như thế nào mà cứ thế là nhổ, nhổ thoải mái, tiện chỗ nào là nhổ chỗ đó. Thủ phạm đa số là đàn ông, con trai.

Không biết, người nước ngoài họ sẽ nghĩ sao khi chứng kiến những cảnh như thế ngoài đường. Như tôi từng được biết, có một cô gái Nhật Bản thề rằng sẽ không bao giờ trở lại Việt nam vì cô cũng đã rơi vào hoàn cảnh như tôi.

Mong ngày không xa, đường phố của chúng ta sẽ sạch sẽ hơn và không còn bắt gặp những “ của  rơi của vãi”  như  vậy nữa.

  • Theo “ Người Việt: Phẩm chất và thói hư tật xấu”

Con lật đật

Nguyễn Quang Thân

Theo Blog Nhà Văn Nguyễn Quang Thân

Phòng chờ nhà ga hàng không đang yên tĩnh. Bỗng có tiếng loa “mời quý khách lên máy bay”. Cái tin ấy chẳng có gì mới vì ai cũng biết rõ giờ lên máy bay, ai cũng có đồng hồ trên cổ tay, vé nào cũng có ghi chỗ ngồi không thể lẫn lộn. Vậy mà cứ 100 người Việt mình thì y như có cả trăm vội vã như được báo cháy, như những con lật đật chen chúc nhau chạy ào đến nút kín cả cửa ra. Như ai cũng sợ mất chỗ. Chỉ còn lại trên các dãy ghế ngồi những người nước ngoài, bình thản và tự tin, có vẻ như họ không nghe thông báo hoặc không đi chuyến máy bay ấy.

Con lật đật có nhiều nhất ở ngã ba ngã tư đèn xanh đèn đỏ giao thông. Người Việt Nam mình nổi tiếng có tính kiên nhẫn. Bao nhiêu chinh phụ chờ chồng suốt cả một đời, có người đã hóa đá, hàng triệu người tham gia chiến tranh “kháng chiến trường kỳ” giành độc lập tự do. Thế nhưng rất ít người biết chờ một phút ở ngã tư đường. Ai cũng muốn nhích hơn người bên cạnh một chút dù là một phần tư cái bánh xe! Kết quả của sự vội vã ấy là những chỗ kẹt xe đã được nêm cứng không lối thoát do chính những người vội vã.

Người ta cũng không biết chờ chuyến sau mà cứ xô đẩy nhau nhảy lên dù chuyến phà, chuyến đò đã đầy để rồi gặp những tai nạn kinh hoàng trên sông nước. Người ta vội vàng đánh bạc với tính mạng khi chen chúc nhau mua vài lít xăng trước giờ tăng giá để tích trữ trong nhà. Nhìn họ tranh nhau ở cây xăng mà cứ liên tưởng tới đàn thiêu thân lao vào ánh đèn để…chết!

Và tai hại nhất cho dân cho nước khi những con lật đật bất tài vô tướng chen chúc nhau “ngồi nhầm chỗ” trong hệ thống quản lý đất nước. Họ không biết chờ, không biết lượng sức mình, không biết mình là ai, không tính đến hậu quả chân không vừa giầy, hễ có dịp ( trước kỳ bầu cử, trước ngày có đại hội bầu bán này nọ) là xô đẩy nhau, bằng mọi cách, mọi giá để tìm một chỗ thơm tho cho mình, dù đó chỉ là một chức tổ trưởng.

Tôi đã thấy nhiều người nước ngoài lặng lẽ đưa chiếc xe đẩy do những con lật đật bỏ lại trong phòng chờ sân bay vào chỗ của chúng dù đã cận kề hết giờ làm thủ tục. Họ cũng chịu khó đi hàng chục mét hay từ đầu đến cuối toa tàu hỏa để gẩy một cái tàn thuốc lá vào thùng chứa rác.hay cất một miếng giấy vụn vào đúng chỗ chứ không lật đật thẩy nó qua cửa sổ. Sang châu Âu, châu Mỹ cũng thấy họ khoan thai như thế. Vậy mà hàng năm họ làm ra của cải gấp vài chục lần những con lật đật.

Phải chăng đó là cách sống không thể cưỡng lại được sinh ra từ kinh tế thị trường? Xin đừng “đổ tiêm la cho trâu”! Hãy nhìn lại mình cho kỹ và thấy hiển nhiên rằng thói lật đật ấy có mùi của xôi thịt đình làng ngày xưa. Và sự chen chúc nhau, tranh giành nhau trong hỗn loạn chính là nguồn gốc của nghèo đói và tụt hậu trong một thế giới văn minh hiện đại.

Cũng phải làm cái gì chứ

Nguyễn Quang Thân

Theo Blog Nhà Văn Nguyễn Quang Thân

Một tiến sĩ Việt Kiều từ Pháp về đi rất nhiều nơi, tiếp xúc với bạn bè cũ hồi học đại học, gặp gỡ nhiều bạn mới trẻ. Trước khi trở lại Pháp, trông bà có vẻ buồn, không hào hứng như lúc mới về. Tôi hỏi, không ngần ngừ, bà buông một câu chắc nịch: “ Em buồn vì thấy nhiều người, ít nhất thì cũng là tuyệt đại đa số bạn bè của em trẻ cũng như già, họ sống buông xuôi, ngoài việc kiếm sống  hay vừa lòng với cuộc sống sung túc, nhàn nhạt, không mấy người có dự định làm cái gì để sử dụng hết khả năng của mình hết!”

Bà nói, lướt qua báo chí, kể cả báo mạng, thấy lớp trẻ quan tâm đến bộ đùi của một minh tinh Mỹ vừa được mua bảo hiểm hơn chuyện sân gôn hay Vedan, hay những dòng sông bùn đỏ. Buồn vì có nhiều tờ báo mạng đưa tin “Chung Hân Đồng đỏ mặt sau khi uống rượu”! Anh thử thăm dò mà xem, rất nhiều trí thức không đọc tin cá chết trên sông Nhuệ vừa rồi nhưng lại rất tường chuyện Thủy tốp lộ hàng, hay “hàng” của Thủy tốp bị lộ là hàng thật hay sản phẩm của photoshop!

Quan tâm cái gì thì sống với cái đó. Như anh nghiện rượu thì luôn nghĩ cách pha cốc-tai thế nào cho ngon. Khi những vấn đề quan trọng nhất của đất nước bị “lờ” đi thì chẳng ai biết nghĩ gì, làm gì ngoài việc kiếm cơm.

Tôi nói với bạn tôi rằng chuyện này không cần phải ở Pháp lâu ngày trở về mới nhìn thấy. Mà nhiều người có tính hay lo đã thấy từ lâu. Tóm lại đó là tình trạng thông tin mà những gì cần biết nên biết thì không có, không đủ hoặc đưa ra một cách sai lệch. Không có A thì chỉ còn lại B nữa mà thôi. Người ta yên phận trong một môi trường thông tin không gợi cảm hứng đóng góp và suy nghĩ, sáng tạo. Chúng ta thường gọi đó là “tình trạng thiếu cảm hứng tạo dựng sự nghiệp” trong các thế hệ 8x, 9x và cả những người đứng tuổi có tài năng nữa.

Người ta đang chăm chú vào cái gì? Đang làm gì? Ngoài những người thích buôn dưa lê chuyện tầm phào và hình sự, độc giả trung thành của rất nhiều tờ báo cho kết quả tích cực là sau khi đọc xong người ta đi mua thêm ngay lập tức một cái ổ khóa, một bộ phận tuổi trẻ khác thì coi săn lùng được một suất học bổng của nước ngoài là lý tưởng sống để đời. Việc này cũng có một kết quả “tích cực” là sau khi thành tài, họ trở thành một người ngoại quốc thỉnh thoảng về thăm quê rồi buồn như bà bạn của tôi nói trên. Quá ít người chịu nghĩ hay chịu làm một cái gì nghiêm túc mà người ta thường gọi là sự nghiệp!

Có nhiều nguyên do đẻ ra cách sống đáng buồn đó. Cho nên chúng ta hãy hết lòng kính trọng những tờ báo chịu mạo hiểm khêu gợi được cảm hứng sáng tạo và đóng góp của cộng đồng, kính trọng những tấm gương chịu nghĩ, chịu làm vẫn thường xuất hiện trong cuộc sống. Chẳng hạn, tìm cách đưa sách về các dòng họ ở nông thôn, mầy mò phương pháp dùng đất sét làm trong nước hồ Hà nội của một học sinh trung học, nghĩ ngợi ra một cái máy tước hạt ngô rẻ tiền của một ông Hai Lúa v.v. Hay cả những việc làm “thất bại trông thấy” như làm một chiếc trực thăng …còn hơn là không làm gì cả. Làm gì cũng được, miễn là đầu óc không suốt ngày lo lắng, bứt rứt tại sao nữ diễn viên Hồng Kông từng bị “lộ hàng”, Chung Hân Đồng uống rượu lại đỏ mặt!

Thương lắm Hà Nội ơi

Tôi không phải là người Hà Nội gốc. Có lẽ vì thế mà nhiều người bảo tôi không có cái cốt cách của người Hà Nội. Tôi không phủ nhận. Nhưng tôi vẫn yêu Hà Nội, tình yêu đối với một Thủ đô thiêng liêng ngàn năm văn hiến. Và rồi tôi cũng chạnh lòng trước những trăn trở thường nhật của người Hà Nội. Thương lắm Hà Nội ơi!

Thương lắm Hà Nội ơi! Nguồn: vietbao.vn

Thương lắm Hà Nội ơi! Nguồn: vietbao.vn

Thời còn học phổ thông, ao ước lớn nhất của tôi là được một lần đặt chân tới Hà Nội (mặc dù quê tôi cách Hà Nội có hơn 60 cây số). Thích thú biết bao khi được sải bước trên những con đường lộng gió thênh thang, được dạo chơi trên những con phố cổ, ngắm hồ Gươm xanh, những toà nhà cao vút… Hà Nội trong mắt tôi ngày ấy vừa hiện đại nhưng cũng rất cổ kính, nơi mà ta có thể sống cho cả quá khứ và cả tương lai.

Lên đại học, tôi như thoả được niềm mong ước ngày nào. Háo hức như một đứa bé thơ, tôi sục sạo khắp phố phường Hà Nội, tìm hiểu và khám phá Hà Nội một cách  say mê và thích thú. Nhưng rồi bỗng hụt hẫng, chênh chao. Những cảm xúc tươi mới qua đi thật chóng vánh.

Những nét đẹp hoài cổ, dịu dàng của Hà Nội chỉ thoáng qua như những cơn gió heo may, thật mỏng manh và yếu đuối. Những nét tân tiến mà dở dang, hổ lốn, khập khiễng học đòi, đâu đâu cũng có thể bắt gặp như muốn xua đuổi cái dĩ vãng ngọt ngào đã qua. Để rồi đứng giữa cái “hiện đại” trọc phú và nét đẹp cổ điển chưa hết phôi pha ấy, tôi bỗng nhận ra một diện mạo Hà Nội ngổn ngang, khó gọi rõ tên và đầy trăn trở.

Thương lắm Hà Nội ơi! Còn đâu nữa những “phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu”. Những di tích lịch sử, văn hoá bị xà xẻn đến tận chân tường bờ gạch. Bây giờ nhà bê tông, mái sắt…thật vững chãi mà sao cứ thấy u hoài. Những ngôi nhà không hình thù, không bản sắc cứ thụt thò lố nhố như những khuôn mặt nửa cười nửa mếu, nửa khôn nửa dại.Còn chung cư, biệt thự xây xong lại “để mặc gió lung lay”. Để rồi những làng lúa làng hoa ngậm ngùi không biết đi đâu, về đâu.

Những cung đường ngày nào cũng “bội thực”, người, xe như đàn kiến chạy loạn. Mỗi lần ra khỏi nhà  lại thấy lo lo. Xe phóng như điên, như vào chỗ không  người, xe trèo qua rào chắn, xe bò qua lan can, tràn lên vỉa hè, xe này lấn đường của xe kia…

Bởi tại vì đâu khi đường cứ đột ngột thắt lại như chiếc cổ chai, còn ổ gà thời công nghiệp cứ to như ổ khủng long vậy. Đường tắc đã trở thành chuyện thường ngày ở mỗi con phố. Lại còn đất, cát, vật liệu ở đâu cứ tuôn xuống lòng  đường. Để bụi đất cứ mải miết  bay mù mịt. Vỉa hè mà chẳng thể dành cho người đi bộ…Sáng dẹp, chiều lại lấn chiếm.

Thương lắm Hà Nội ơi! Hình như khoảng cách giàu nghèo đang nới rộng thêm hay sao ấy? Có phải thế không mà biệt thự ngày càng nhiều, ô tô sang trọng ngày càng nhiều, nhà hàng, khách sạn cũng ngày càng nhiều trong khi “chợ người tìm việc” ở vỉa hè cũng ngày càng đông, đủ mọi lứa tuổi. Trẻ có, ương ương có, và già cũng có. Nhiều mái nhà lụp xụp, tạm bợ vẫn mọc lên bên cạnh những toà nhà chọc trời.

Những cơn mưa chưa kịp làm vơi đi nỗi khát làm không khí dịu mát đã vội vàng chất chứa những âu lo. Lụt lội, ô nhiễm, kẹt xe…Những cống thoát nước như những cụ già hen suyễn cứ ho sù sụ mỗi khi mưa về.

Rác ngập tràn trên phố. Rác tràn xuống lòng đường. Và như một thói quen, lòng đường trở thành nơi đổ rác. Những mảnh tường của những ngôi nhà sơn quét mịn màng lại nhằng nhịt những tờ rơi, quảng cáo nham nhở tầng tầng lớp lớp: Thuê gia sư, trộn bê- tông, hút bể phốt…

Thương lắm Hà Nội ơi! Có sông mà chẳng thể ra hóng mát, bởi vì sông còn đâu? Sông đã chết. Thương lắm Hà Nội ơi! Sao vẫn còn những cái tên nghe lạ lùng mà tôi bỗng thấy choáng ngợp, thấy hài hước và hổ thẹn khi một người khách nước ngoài hỏi: “Đến phố CAM DAI BAY đi đường nào”.

Còn  biết bao nhiêu cái thương nữa mà tôi không kịp nhớ hay không thể nhớ  hết mà viết ra đây. Bời vì đâu mà Hà Nội lại phải chịu những điều như vậy. Có phải tại tạo hoá đã sinh ra một Hà Nội vốn như thế ? Không! Vậy thì chỉ bởi chính chúng ta – những người đang hàng ngày sinh sống trên mảnh đất thương yêu này. Sự tham lam, ích kỉ, bon chen…của mỗi cá nhân; thói vô cảm, dốt nát và kém cỏi trong quản lý đã vô tình hay hữu ý làm tổn thương Hà Nội.

Gía như người ta biết trân trọng hơn những cái gì thuộc về lịch sử, về văn hoá thì nhiều ngôi đình, đền chùa, miếu mạo đâu đến nỗi phải kêu than. Gía như người ta biết quan tâm  gìn giữ thì những mái ngói cổ kính, những nếp nhà đơn sơ phố cổ cũng chẳng bị lãng quên giữa chốn thị thành hiện đại.

Và giá như người ta đừng chạy theo những cái gọi là “mốt” để rồi phá bỏ đi những cái thuộc về truyền thống gia đình, dòng họ, về qúa khứ. Để lớp lớp con cháu sau này còn biết đến, cái này… là do đôi tay tài hoa của cha ông làm ra, cái này…đã một thời làm nên nét văn hoá của Thăng Long- Hà Nội.

Gía như những nhà quản lý, hoạch định chính sách, những người xây dựng có trách nhiệm, có tâm và có tầm hơn. Để phố được là phố, nhà được mang dáng hình nhà thì phố và nhà đâu có dở khóc dở cười như vậy. Để rồi đường không phải là nơi “gà ấp trứng”, nơi trưng bầy chướng ngại vật, barie và “nghệ thuật sắp đặt”.

Để công trình khỏi bị “rút ruột”, dự án đừng bị “treo”, đường khỏi bị “nắn”…Có viển vông quá không, có bi quan quá không, khi thỉnh thoảng lại nghe thông tin về vị này tham ô, vị này nhận hối lộ, chỗ kia có tham nhũng, chỗ nọ có lãng phí…mà vụ sau cứ lớn hơn vụ trước.

Giá như những người giàu biết quan tâm đến những người nghèo hơn, những người nghèo biết chịu khó và nghị lực hơn, đừng ỉ lại, tự ti, hay buông xuôi thì chắc sẽ không có những cảnh “kẻ ăn không hết, người lần không ra” nữa. Và khi mỗi trái tim đều biết lên tiếng trước những xấu xa bạo ngược thì sẽ không còn cảnh những em bé bị bạo hành nữa. Để Hà Nội mãi là một thành phố vì hoà bình như chúng ta vốn tự hào.

Giá như mỗi người dân có ý thức hơn, tuân thủ pháp luật khi tham gia giao thông, thì đâu đến nỗi phải chịu cảnh tắc đường, tai nạn chết người. Người ta sống cả đời chứ có phải sống chỉ vài giây, vài phút. Nhưng ai cũng muốn đi trước, ai cũng muốn hơn, ai cũng muốn thắng, ai cũng muốn “khẳng định” cái tôi của mình trên đường phố, mà bất chấp cả luật lệ.

Giá như người ta đừng tham lam, ích kỉ có nhà mặt phố nhưng vẫn cố chiếm nốt cái vỉa hè nhỏ nhoi kia. Để hè phố là hè phố, cho người đi bộ thong dong, chứ không phải là nơi bày biện hàng quán, nơi chất rác thải, đổ vật liệu xây dựng. Để những cơn mưa cứ mãi là  những kỉ niệm đẹp chứ không phải là nỗi lo âu, ngao ngán.

Giá như mỗi nhà có ý thức hơn, đừng đem rác đổ ra lòng đường. Mỗi người có ý thức vệ sinh chung, bỏ rác vào thùng có phải phố xá sẽ đẹp hơn không. Điều này có khó lắm không khi việc làm đó không chỉ là hành vi cần có của con người văn minh, văn hoá, mà còn là để  bảo vệ môi trường sống của chúng ta.

Rồi lại ước giá như đừng phải đi cả vài cây số tìm mỏi mắt mới thấy một thùng rác, có phải tốt hơn không. Và giá như những gánh hàng rong cứ giữ mãi cái nét thơ mộng như nó đã từng có, đừng vội vã bước đi để lại toàn là rác(!)

Rồi giá như những ai đó đừng mải mê với những dự án sân gôn, biệt thự mà hãy xem đã có nhà máy xử lý nước thải trong thành phố hay chưa? Hay nước bẩn, nước thải cứ ào ạt đổ ra  sông. Để rồi sông không còn là sông mà trở thành “kẻ huỷ diệt” sự sống vậy. Và những “nỗi buồn không ai giống ai” được giải quyết kịp thời khi nhà vệ sinh công cộng không còn thiếu và bẩn, thì làm gì còn những tên phố trong những câu chuyện “tiếu lâm” hàng ngày  có cái tên là “CAM DAI BAY”.

Giá như sông Tô Lịch trong xanh trở lại.

Giá như đường lại thông, hè lại thoáng.

Giá như có những tuyến đường chỉ dành riêng cho người đi bộ trong thành phố. Giá như…

Chỉ một điều “Giá như” thôi  thành hiện thực, có lẽ Hà Nội của chúng ta sẽ đẹp hơn rất nhiều.

Thương lắm Hà Nội ơi!

  • Đình Quang (Theo tuanvietnam.net)