Tính ích kỷ của người thành thị

Cái kiểu xách rác từ nhà mình bỏ sang nhà khác thì chỉ những dân thành thị khôn lanh mới làm được. Với người sống ở thành thị, thói xấu dễ bộc lộ nhất là tính ích kỷ.

Không đồng ý quan điểm “tâm lý tiểu nông” là nguyên nhân chính cản trở việc xây dựng những đô thị văn minh, TS Nguyễn Hữu Nguyên, Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM, cho rằng biểu hiện của thói xấu phụ thuộc vào môi trường sống.

Đừng đổ cho “Hai Lúa mới ra”

. Những hành vi xấu của thị dân như chen lấn, vứt rác ra đường, cho chó ị bậy nhà người khác… nói lên điều gì, thưa ông?

+ Nó cho thấy tính ích kỷ là một thói xấu dễ nhận biết ở môi trường đô thị. Đặc điểm của đời sống đô thị là mật độ dân số rất cao, tần suất tiếp xúc cũng rất lớn. Do đó, tự do của người này luôn bị giới hạn bởi tự do của người khác. Người nào muốn mình lợi nhiều hơn sẽ đụng chạm đến lợi ích của người khác. Chứ ông Robinson hay Mai An Tiêm ở ngoài đảo hoang thì không thể hiện được tính ích kỷ, vì có va chạm với ai đâu. Nói cách khác, vấn đề là ai có tính ích kỷ, còn ở thành thị hay ở nông thôn chỉ khác nhau về hình thức biểu hiện.

Vứt rác như thế này, một hành vi thường thấy ở đô thị. (Ảnh chụp trên đường Trần Hưng Đạo, quận 1, TP.HCM) Ảnh: HTD)

. Có nhiều người cho rằng những hành vi ấy xuất phát từ “tâm lý tiểu nông”, ông nghĩ sao?

+ Thói xấu nhiều hay ít rất khác nhau ở mỗi người, đồng thời cũng khác nhau về hình thức biểu hiện ở những môi trường sống khác nhau. Chẳng hạn tính ích kỷ ở nông thôn có thể bộc lộ qua việc nhổ trộm vài củ khoai, vài trái bắp của người khác… Chứ ở nông thôn, trâu bò đi dưới ruộng, trên đường thì ít người đi, việc gì phải chen lấn.

. Nhưng chính vì thế mới quen với việc đi lại tùy tiện?

+ Người nông dân khi mới lên phố đi lại tùy tiện, hoặc thảy rác ra đường chỉ là do thói quen chưa bỏ được. Hành động ấy có thể chỉ là vô ý thức. Còn cái kiểu xách rác từ nhà mình bỏ sang nhà khác thì chỉ những dân thành thị khôn lanh mới làm được. Dân nông thôn mới ra phố rất sợ công an phạt, còn dân thành thị biết rồi nên nhìn ba góc ngã tư không thấy công an là phóng qua. Sống ở thành thị mà ích kỷ thì thói xấu đó khủng khiếp hơn nhiều chứ đừng đổ cho “Hai Lúa mới ra”.

Văn minh phải kèm điều kiện vật chất

Theo ông Nguyên, đô thị có rất nhiều cái “đa”: đa dân tộc, đa văn hóa, đa nghề nghiệp, đa trình độ… Nó chứa đựng tất cả các tầng bậc, từ thượng vàng đến hạ cám. Có thể nói hiện nay đô thị của chúng ta, số người đúng nghĩa thị dân vẫn còn ít hơn số người chưa đủ phẩm chất thị dân.

. Như vậy, có phải là ý thức thị dân của chúng ta chưa cao?

+ Có nhiều người đi nước ngoài về thường khen đường phố của họ sao mà sạch đẹp thế, ý thức dân họ sao cao thế, rồi chê dân ta ý thức còn kém quá nhưng người ấy quên rằng GDP của họ gấp mấy chục lần ta. Lúc còn nghèo, TP của họ cũng bê bối lắm. Văn minh đô thị phải đi kèm với điều kiện vật chất chứ!

Nhiều người nuôi chó chỉ muốn sạch nhà mình nên dắt cho đi bậy ở nhà người khác. (Ảnh: HTD)

Hơn nữa, ý thức người dân còn thấp là do nhiều nguyên nhân: Hạ tầng kinh tế kỹ thuật chưa đáp ứng được tính hiện đại, kỷ cương chưa nghiêm, người lãnh đạo chưa thấy hết trách nhiệm. Không thể đòi hỏi một lớp thị dân có sẵn ý thức mà chính lãnh đạo phải có trách nhiệm xây dựng ý thức cho lớp thị dân đó.

Tôi lấy ví dụ việc xếp hàng. Nhiều khi họ chen lấn không phải vì vội mà vì họ sợ không đến lượt mình. Giáo dục ý thức là một chuyện nhưng cũng phải tạo ra được những cái hàng ngắn để khi xếp hàng họ có thể yên tâm không sợ mất phần. Cũng có khi người ta có ý thức nhưng lại không có môi trường để thể hiện. Ví dụ, một anh đi nhậu về, cố tìm nhà vệ sinh mà không có thì cũng đến lúc phải tìm một gốc cây nào đó thôi!

Vấn đề là người thực thi pháp luật

. Ông nói văn minh đô thị phải đi kèm với điều kiện vật chất. Điều này được hiểu thế nào?

+ Cách đây khá lâu tôi có xem một vở hài kịch thế này: Anh đạp xích lô vượt đèn đỏ, bị cảnh sát giao thông kêu vào. Công an hỏi: Có thấy đèn đỏ không mà vẫn chạy. Anh ta đáp: “Dạ em nhìn thấy đèn đỏ nhưng không nhìn thấy anh. Đề nghị lần sau anh đứng ra chỗ trống cho bọn em nhìn thấy”. Như vậy, chừng nào “em không nhìn thấy anh (cảnh sát giao thông) nhưng vẫn bị phạt thì em mới không dám vượt đèn đỏ”.

Ở nhiều nước châu Âu, họ có camera theo dõi 24/24 giờ, dù không có cảnh sát nhưng anh vi phạm thì ngày mai vẫn nhận giấy báo nộp phạt. Nếu họ bỏ hết camera thì chắc cũng loạn xạ như ta thôi. Như vậy không phải ý thức của họ cao hơn ta. Mà chính là người dân bên họ bị pháp luật cùng những phương tiện công nghệ cao kiểm soát chặt chẽ hơn chúng ta, do đó mà hạn chế được nhiều hành vi xấu.

. Có người cho rằng pháp luật của ta chưa nghiêm nên người dân có điều kiện vi phạm nhiều hơn?

+ Theo tôi, “pháp luật chưa nghiêm” và “người thực thi luật pháp chưa nghiêm” là hai vấn đề khác nhau. Như luật giao thông của ta chẳng hạn, chặt chẽ không thua gì các nước tiên tiến nhưng vì sao kém hiệu lực? Vì người thực thi pháp luật còn rất lỏng lẻo. Sự nghiêm minh của pháp luật không phải ở chỗ cứ phạt thật nặng mà chính là ở chỗ người thực thi pháp luật phải thật nghiêm minh. Như hiện nay, có những người thực thi pháp luật chỉ “chưa nghiêm” đối với người… biết hối lộ mà thôi!

. Cảm ơn ông.

  • Thùy Linh (Theo tintuconline.vietnamnet.vn)

Ký ức rừng

Tôi không biết những cánh rừng mất đi có đem lại ấm no, hay giá trị hơn hẳn nó cho quê hương hay không. Tôi chỉ biết rằng mất rừng, nhiều thế hệ người Việt Nam sau này không biết đến những giá trị của rừng nguyên sinh, khi rừng còn bao phủ nhiều vùng miền quê tôi.

Nhìn bé “Bằng Lăng” đứng khép nép với những chiếc lá đỏ hoe như đôi mắt đầy nước, sắp nhỏ xuống những giọt buồn bã côi cút, bên hè một ngôi nhà, lòng tôi rưng rưng thương cảm và bất chợt nỗi nhớ về một cánh rừng Bằng Lăng thắm đỏ, dâng tràn tâm tư. Có lẽ, ít người Việt Nam biết rằng: vào mùa này, cái thời điểm thu đang dùng dằng từ biệt và mùa đông vừa mới ngấp nghé nơi chân trời, thì trên những cánh rừng nhiệt đới miền Đông của nước ta, từng có vùng lá đỏ đẹp không thua kém bất kỳ cánh rừng nào. Trong đó, có cánh rừng bằng lăng?

Vào thập niên 70 của thế kỷ trước, (nói nghe có vẻ xa lắc, xa lơ nhưng thật ra thời gian mới chỉ bằng một cậu bé từ sinh ra và trở thành người đàn ông đúng nghĩa ở tuổi ba mươi). Vào một ngày của mùa này, tôi và vài người nữa đã lang thang ở cánh rừng phía Đông của dòng sông Đồng Nai. Chúng tôi hăm hở băng qua nhiều cánh rừng cốt để tìm một rừng tre, lồ ô nguyên sinh. Có lúc, chúng  tôi đi trên những lối mòn, có lúc, cứ nhìn mặt trời rồi nhắm hướng tây mà cắt. Hết một cánh rừng là mảng cỏ xanh non, màu xanh ngọt mướt, sức sống tràn đầy ngồn ngộn trên những khu đầm lầy. Hết đầm, tiếp giáp một cánh rừng khác. Bất ngờ, chúng tôi lọt vào một cánh rừng Bằng Lăng bạt ngàn. Chao ôi! Bừng bừng một  trời lá đỏ! Nhìn lên, không gian như cháy sáng bởi ngọn lửa từ sắc hừng  của lá thắm vừa dịu dàng, vừa nồng nàn, và cũng vô cùng miên man.

Chúng tôi rạo rực bước lang thang trong cánh rừng Bằng Lăng, chẳng còn ai chú ý đến đám vắt ngoe nguẩy trong lớp lá mục, có lúc, chúng cắn no nơi bắp chân rồi lăn cái mình đã  tròn căng, bóng lưỡng rớt xuống mặt lá chết. Bởi những cây bằng lăng thẳng vút, to hai người choàng tay không hết, hoặc nhỏ hơn một chút, thân sáng trắng, vươn những cánh tay khỏe khoắn như muốn chống đỡ bầu trời xanh. Bên trên cánh rừng, những khoảng sáng, hệt như các cánh cửa mở vào một lối thiên thai nào đó. Cánh rừng Bằng Lăng hùng tráng, rưng rưng những cánh lá đỏ chấp chới đã hớp hồn chúng tôi.

Thật lạ, bên dưới tán rừng Bằng Lăng rất thoáng, chỉ một lớp cỏ mọc thấp, chứ không chằng chịt cây non như loại rừng khác. Vì vậy, những  cơn gió bay qua, lớp lớp lá đỏ chòng chành rời cành bay lảo đảo, rồi nhẹ nhàng đậu thiêm thiếp trên mặt đất. Những chiếc lá thu hết tàn lực, tự cháy lên sự khát khao được đẹp lần cuối cùng, trước khi hóa kiếp.

Về sau, tôi còn biết rằng, trong số những cây Bằng Lăng quí giá của cánh rừng nọ, có những thân là Bằng Lăng bông lau, gỗ trắng, vân hồng, thịt mịn đẹp tuyệt vời! Ngày nay, những miếng gỗ Bằng Lăng bông lau có đường kính từ nửa mét trở lên, chỉ có mặt trong những bộ đồ gỗ ở những gia đình lắm tiền, nhiều của. Nhưng lúc đó, tất cả chúng tôi chỉ lo ngắm lá đỏ đang cháy rực trên bầu trời, lòng trào dâng một niềm tự hào khôn tả về quê hương, đất nước.

Vào những năm đầu thập niên 80, tôi thường xuyên qua lại trên con đường mòn từ ngã ba Lăng Minh qua Sông Rây, quẹo về Bàu Lâm, xuôi xuống Hòa Bình, Bà Tô, gần đến Bà Rịa – Vũng Tàu (ngày nay, con đường này có đoạn trở thành đường tỉnh lộ, đường quốc lộ, đẹp nhất nước). Nhưng khi đó, đoạn từ Sông Rây đến Bàu Lâm toàn đi qua rừng già.

Con đường như một sợi chỉ mỏng manh đỏ ngầu, bò len lỏi giữa những cánh rừng nguyên sinh trùng trùng. Nhưng những cánh rừng ấy long lở từng giờ. Máy ủi, máy cưa, máy cày gầm rú ầm ầm trong cơn khát khao đốt phá. Khói đốt rừng bốc lên nghi ngút mù trời. Những cây gỗ quí như Lim, Cẩm lai, Gõ đỏ, Bằng Lăng, Trai… nếu may mắn thì theo xe buôn gỗ đi muôn nơi, nhưng không ít bị vứt vào ngọn lửa đốt  rừng hối hả. Còn những gốc mai hàng trăm năm tuổi thì gần như chẳng ai đoái hoài gì đến, chúng ngậm ngùi thành tro trong lặng lẽ cùng trăm ngàn loài cây rừng khác.

Người ta đốt, người ta cày xới, người ta đốn hạ những cánh rừng nguyên sinh hấp tấp, hối hả, mau mau. Những cánh rừng thiên nhiên mất hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm kiến tạo, chỉ trong nháy mắt cuộc đời đã bay hơi như chưa từng hiện diện bao giờ. Mỗi ngày, hàng trăm héc ta rừng đổ nghiêng, bật gốc rồi cháy rụi. Sức tàn phá của con người so với bão táp của trời đất, thì kinh khủng hơn gấp ngàn lần. Tốc độ đó đã làm cho muôn thú trong rừng không lối thoát, phần lớn, chúng bị dồn vào con đường tuyệt chủng vì mất nhà ở, mất nơi kiếm sống, như bầy voi chẳng hạn.

Tại những cánh rừng huyện Xuyên Mộc, vào những năm 1983 – 1984, từng có voi sa vào hố bom ngay trên đất mới phá rừng. Ban ngày, hàng trăm người tụ tập đến gần để xem con voi mắc nạn, có người còn mang đến hàng vác mía từ nông trường Sông Rây cho chúng ăn, mặc dù bầy voi lẩn quẩn đâu đó vì không nỡ bỏ con voi kém may mắn, chúng cất tiếng hú gọi đầy phẫn uất và bi thương.

Cuối cùng, người ta cũng tìm được cách giúp con voi lên khỏi hố bom. Cả bầy voi đã phủ phục bái tạ trước khi kéo nhau bỏ đi. Với tôi, đàn voi đó có lẽ chính là đàn voi cuối cùng về sau đã tụ tập về khu rừng núi Ông – Tánh Linh – Bình Thuận, bởi vì cả một vùng miền tiếp giáp từ Bình Châu, Xuyên Mộc, Xuân Lộc, Hàm Tân và Tánh Linh chạy liền đến dưới chân những dãy Trường Sơn hùng vĩ ngăn chia Bình Thuận với Tây Nguyên ở cuối phía Nam. Bây giờ, rừng đã co cụm lên núi cao, và ngay cả nhiều đồi núi trên Trường Sơn ở khu vực này cũng đã trọc lóc, từ dưới nhìn lên, núi cứ đỏ loang như máu chảy, chứ không xanh mịt mùng như mấy chục năm trước.

Những cánh rừng toàn bộ của khu vực trên giờ đã là những nông trường, những công ty cao su, trong số đó phần lớn đã cổ phần hóa tư nhân, bởi vì nhiều đơn vị quốc doanh từng làm ăn thua lỗ.

Tôi có nhiều chuyến lang thang bên dưới những cánh rừng cao su, trong đó có chuyến đi tìm một huyền thoại đã chết, huyền thoại về một con voi trắng. Trong nhân gian nhiều vùng ở Tây Nguyên và miền Đông từng đồn thổi rằng, vua Bảo Đại sau khi thoái vị về sống ở Đà Lạt từng nuôi một con voi trắng. Khi gia đình ông rời Việt Nam đã thả con voi trắng về rừng và trên cổ nó có mang vật kỷ niệm đó là một sợi xích bằng vàng?

Chuyện hư thực ra sao không biết, nhưng người dân sống ở gần đồi Bảo Đại, ngọn đồi này nằm ở phía tây, thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, nơi tiếp giáp với những cánh rừng của ba tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Thuận. Ngọn đồi trước đó được đặt tên là đồi Con Sò, những năm 1952 – 1953, quốc trưởng Bảo Đại đến đây săn bắn và nghỉ lại trên đỉnh đồi, từ đó, người dân vùng này gọi tên đồi thành đồi Bảo Đại cho đến ngày nay. Khi rừng còn vây bọc bình nguyên chung quanh ngọn đồi, nhiều người dân nơi này chỉ vào những  dấu chân voi về làng, rồi thì thầm rằng dấu chân ấy chính là của “ngài voi trắng”.

Huyền thoại con voi trắng từng khoác lên mình những cánh rừng nhiệt đới miền Đông, rừng giáp ranh Tây Nguyên một vẻ đẹp lãng mạn, bí ẩn. Nhưng nay rừng chỉ còn trong ký ức, con voi trắng cũng chẳng có nơi nào trú ẩn, câu chuyện chết trong nối tiếc của bao người.

Tôi không phải là một nhà chiến lược, càng không am hiểu về kinh tế, chẳng biết gì về khoa học. Những cánh rừng mất đi có đem lại ấm no, hay giá trị hơn hẳn nó cho quê hương hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết rằng mất rừng, nhiều thế hệ người Việt Nam sau này không biết đến những giá trị của rừng nguyên sinh, khi rừng còn bao phủ nhiều vùng miền quê tôi.

  • Minh Nhựt ( Theo tuanvietnam.net)