Ký ức rừng

Tôi không biết những cánh rừng mất đi có đem lại ấm no, hay giá trị hơn hẳn nó cho quê hương hay không. Tôi chỉ biết rằng mất rừng, nhiều thế hệ người Việt Nam sau này không biết đến những giá trị của rừng nguyên sinh, khi rừng còn bao phủ nhiều vùng miền quê tôi.

Nhìn bé “Bằng Lăng” đứng khép nép với những chiếc lá đỏ hoe như đôi mắt đầy nước, sắp nhỏ xuống những giọt buồn bã côi cút, bên hè một ngôi nhà, lòng tôi rưng rưng thương cảm và bất chợt nỗi nhớ về một cánh rừng Bằng Lăng thắm đỏ, dâng tràn tâm tư. Có lẽ, ít người Việt Nam biết rằng: vào mùa này, cái thời điểm thu đang dùng dằng từ biệt và mùa đông vừa mới ngấp nghé nơi chân trời, thì trên những cánh rừng nhiệt đới miền Đông của nước ta, từng có vùng lá đỏ đẹp không thua kém bất kỳ cánh rừng nào. Trong đó, có cánh rừng bằng lăng?

Vào thập niên 70 của thế kỷ trước, (nói nghe có vẻ xa lắc, xa lơ nhưng thật ra thời gian mới chỉ bằng một cậu bé từ sinh ra và trở thành người đàn ông đúng nghĩa ở tuổi ba mươi). Vào một ngày của mùa này, tôi và vài người nữa đã lang thang ở cánh rừng phía Đông của dòng sông Đồng Nai. Chúng tôi hăm hở băng qua nhiều cánh rừng cốt để tìm một rừng tre, lồ ô nguyên sinh. Có lúc, chúng  tôi đi trên những lối mòn, có lúc, cứ nhìn mặt trời rồi nhắm hướng tây mà cắt. Hết một cánh rừng là mảng cỏ xanh non, màu xanh ngọt mướt, sức sống tràn đầy ngồn ngộn trên những khu đầm lầy. Hết đầm, tiếp giáp một cánh rừng khác. Bất ngờ, chúng tôi lọt vào một cánh rừng Bằng Lăng bạt ngàn. Chao ôi! Bừng bừng một  trời lá đỏ! Nhìn lên, không gian như cháy sáng bởi ngọn lửa từ sắc hừng  của lá thắm vừa dịu dàng, vừa nồng nàn, và cũng vô cùng miên man.

Chúng tôi rạo rực bước lang thang trong cánh rừng Bằng Lăng, chẳng còn ai chú ý đến đám vắt ngoe nguẩy trong lớp lá mục, có lúc, chúng cắn no nơi bắp chân rồi lăn cái mình đã  tròn căng, bóng lưỡng rớt xuống mặt lá chết. Bởi những cây bằng lăng thẳng vút, to hai người choàng tay không hết, hoặc nhỏ hơn một chút, thân sáng trắng, vươn những cánh tay khỏe khoắn như muốn chống đỡ bầu trời xanh. Bên trên cánh rừng, những khoảng sáng, hệt như các cánh cửa mở vào một lối thiên thai nào đó. Cánh rừng Bằng Lăng hùng tráng, rưng rưng những cánh lá đỏ chấp chới đã hớp hồn chúng tôi.

Thật lạ, bên dưới tán rừng Bằng Lăng rất thoáng, chỉ một lớp cỏ mọc thấp, chứ không chằng chịt cây non như loại rừng khác. Vì vậy, những  cơn gió bay qua, lớp lớp lá đỏ chòng chành rời cành bay lảo đảo, rồi nhẹ nhàng đậu thiêm thiếp trên mặt đất. Những chiếc lá thu hết tàn lực, tự cháy lên sự khát khao được đẹp lần cuối cùng, trước khi hóa kiếp.

Về sau, tôi còn biết rằng, trong số những cây Bằng Lăng quí giá của cánh rừng nọ, có những thân là Bằng Lăng bông lau, gỗ trắng, vân hồng, thịt mịn đẹp tuyệt vời! Ngày nay, những miếng gỗ Bằng Lăng bông lau có đường kính từ nửa mét trở lên, chỉ có mặt trong những bộ đồ gỗ ở những gia đình lắm tiền, nhiều của. Nhưng lúc đó, tất cả chúng tôi chỉ lo ngắm lá đỏ đang cháy rực trên bầu trời, lòng trào dâng một niềm tự hào khôn tả về quê hương, đất nước.

Vào những năm đầu thập niên 80, tôi thường xuyên qua lại trên con đường mòn từ ngã ba Lăng Minh qua Sông Rây, quẹo về Bàu Lâm, xuôi xuống Hòa Bình, Bà Tô, gần đến Bà Rịa – Vũng Tàu (ngày nay, con đường này có đoạn trở thành đường tỉnh lộ, đường quốc lộ, đẹp nhất nước). Nhưng khi đó, đoạn từ Sông Rây đến Bàu Lâm toàn đi qua rừng già.

Con đường như một sợi chỉ mỏng manh đỏ ngầu, bò len lỏi giữa những cánh rừng nguyên sinh trùng trùng. Nhưng những cánh rừng ấy long lở từng giờ. Máy ủi, máy cưa, máy cày gầm rú ầm ầm trong cơn khát khao đốt phá. Khói đốt rừng bốc lên nghi ngút mù trời. Những cây gỗ quí như Lim, Cẩm lai, Gõ đỏ, Bằng Lăng, Trai… nếu may mắn thì theo xe buôn gỗ đi muôn nơi, nhưng không ít bị vứt vào ngọn lửa đốt  rừng hối hả. Còn những gốc mai hàng trăm năm tuổi thì gần như chẳng ai đoái hoài gì đến, chúng ngậm ngùi thành tro trong lặng lẽ cùng trăm ngàn loài cây rừng khác.

Người ta đốt, người ta cày xới, người ta đốn hạ những cánh rừng nguyên sinh hấp tấp, hối hả, mau mau. Những cánh rừng thiên nhiên mất hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm kiến tạo, chỉ trong nháy mắt cuộc đời đã bay hơi như chưa từng hiện diện bao giờ. Mỗi ngày, hàng trăm héc ta rừng đổ nghiêng, bật gốc rồi cháy rụi. Sức tàn phá của con người so với bão táp của trời đất, thì kinh khủng hơn gấp ngàn lần. Tốc độ đó đã làm cho muôn thú trong rừng không lối thoát, phần lớn, chúng bị dồn vào con đường tuyệt chủng vì mất nhà ở, mất nơi kiếm sống, như bầy voi chẳng hạn.

Tại những cánh rừng huyện Xuyên Mộc, vào những năm 1983 – 1984, từng có voi sa vào hố bom ngay trên đất mới phá rừng. Ban ngày, hàng trăm người tụ tập đến gần để xem con voi mắc nạn, có người còn mang đến hàng vác mía từ nông trường Sông Rây cho chúng ăn, mặc dù bầy voi lẩn quẩn đâu đó vì không nỡ bỏ con voi kém may mắn, chúng cất tiếng hú gọi đầy phẫn uất và bi thương.

Cuối cùng, người ta cũng tìm được cách giúp con voi lên khỏi hố bom. Cả bầy voi đã phủ phục bái tạ trước khi kéo nhau bỏ đi. Với tôi, đàn voi đó có lẽ chính là đàn voi cuối cùng về sau đã tụ tập về khu rừng núi Ông – Tánh Linh – Bình Thuận, bởi vì cả một vùng miền tiếp giáp từ Bình Châu, Xuyên Mộc, Xuân Lộc, Hàm Tân và Tánh Linh chạy liền đến dưới chân những dãy Trường Sơn hùng vĩ ngăn chia Bình Thuận với Tây Nguyên ở cuối phía Nam. Bây giờ, rừng đã co cụm lên núi cao, và ngay cả nhiều đồi núi trên Trường Sơn ở khu vực này cũng đã trọc lóc, từ dưới nhìn lên, núi cứ đỏ loang như máu chảy, chứ không xanh mịt mùng như mấy chục năm trước.

Những cánh rừng toàn bộ của khu vực trên giờ đã là những nông trường, những công ty cao su, trong số đó phần lớn đã cổ phần hóa tư nhân, bởi vì nhiều đơn vị quốc doanh từng làm ăn thua lỗ.

Tôi có nhiều chuyến lang thang bên dưới những cánh rừng cao su, trong đó có chuyến đi tìm một huyền thoại đã chết, huyền thoại về một con voi trắng. Trong nhân gian nhiều vùng ở Tây Nguyên và miền Đông từng đồn thổi rằng, vua Bảo Đại sau khi thoái vị về sống ở Đà Lạt từng nuôi một con voi trắng. Khi gia đình ông rời Việt Nam đã thả con voi trắng về rừng và trên cổ nó có mang vật kỷ niệm đó là một sợi xích bằng vàng?

Chuyện hư thực ra sao không biết, nhưng người dân sống ở gần đồi Bảo Đại, ngọn đồi này nằm ở phía tây, thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, nơi tiếp giáp với những cánh rừng của ba tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Thuận. Ngọn đồi trước đó được đặt tên là đồi Con Sò, những năm 1952 – 1953, quốc trưởng Bảo Đại đến đây săn bắn và nghỉ lại trên đỉnh đồi, từ đó, người dân vùng này gọi tên đồi thành đồi Bảo Đại cho đến ngày nay. Khi rừng còn vây bọc bình nguyên chung quanh ngọn đồi, nhiều người dân nơi này chỉ vào những  dấu chân voi về làng, rồi thì thầm rằng dấu chân ấy chính là của “ngài voi trắng”.

Huyền thoại con voi trắng từng khoác lên mình những cánh rừng nhiệt đới miền Đông, rừng giáp ranh Tây Nguyên một vẻ đẹp lãng mạn, bí ẩn. Nhưng nay rừng chỉ còn trong ký ức, con voi trắng cũng chẳng có nơi nào trú ẩn, câu chuyện chết trong nối tiếc của bao người.

Tôi không phải là một nhà chiến lược, càng không am hiểu về kinh tế, chẳng biết gì về khoa học. Những cánh rừng mất đi có đem lại ấm no, hay giá trị hơn hẳn nó cho quê hương hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết rằng mất rừng, nhiều thế hệ người Việt Nam sau này không biết đến những giá trị của rừng nguyên sinh, khi rừng còn bao phủ nhiều vùng miền quê tôi.

  • Minh Nhựt ( Theo tuanvietnam.net)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: