Tốt đẹp phô ra, xấu xa quét dọn

Người Việt xưa có câu: “Tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại”, giờ chúng ta nên thực hiện: Tốt đẹp phô ra, còn xấu xa thì hãy quét dọn. Chứ còn đậy lại, úm ba la thì ai phải ngửi?

Cái lý mà người Việt theo đuổi là “Đạo lý làm người”. Dân tộc Việt là một dân tộc rất yêu đạo lý với phương ngôn không còn chỗ nấp nào cho những thứ ậm ừ: “Nói phải củ cải cũng nghe”.

Người Việt cũng nói: “Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng”, “Ăn ngay nói thật, mọi tật mọi lành”. Đấy, chỉ bằng câu mộc mạc như vậy đã khẳng định “sự thật” là thuốc thần để chữa bách bệnh. Rồi “Thật thà là cha quỉ quái”, “Ở quỉ gặp quái, gian tà gặp nhau”.

Ở đời, đức tin có trước mọi tôn giáo, vì không có đức tin làm sao có tôn giáo? Và sự phân biệt tốt – xấu có trước mọi môn đạo đức học. Và người Việt đã đặt ra nền tảng tốt – xấu, hơn thế còn chỉ ra cái xấu để tránh, cái tốt để theo, nghĩa là người Việt đã dấn bước vào phạm trù đạo đức học. Vì thế, có ý kiến cho rằng: Khi ta nói về cái xấu của dân tộc là ta say sưa cái xấu đó, nói vậy là phiến diện.

Mới đây tại Malaysia, cả nước tổ chức ngày “toa lét”, muốn giáo huấn toàn dân ý thức đi vệ sinh và giữ vệ sinh chung, để giữ sức khỏe cộng đồng và hấp dẫn du lịch. Khi người ta chú mục đến vấn đề toa lét, đâu có phải là say sưa với nó, mà để giữ cho cơ thể trong sạch hơn.

Người Việt xưa có câu: “Ăn hết nhiều, ở hết bao nhiêu”, xây nhà thì chỉ chú ý xây gian giữa, còn cái khoản nhà vệ sinh thì quấy quá cho xong; phải nói, cách nghĩ đó đã quá lạc hậu, giờ đây người hiện đại đã nói ngược lại: “Ở hết nhiều, ăn hết bao nhiêu”. Và một ngôi nhà sang trọng thực sự, thì khu phụ được xây dựng hết sức tốn kém, nào đá lát sàn, lát tường, bồn tắm, vòi phun nóng lạnh…

Đây là hình ảnh mộc mạc và hiện đại để chính ta liên tưởng rằng: Càng chú mục để dẹp cái bẩn thì con người chúng ta càng sạch sẽ và lành mạnh. Trái lại, càng lờ cái bẩn đi, thì người ta sẽ bôi bẩn khắp nơi từ nhà ra ngõ đến tận quảng trường.

Một xã hội càng có nhiều người dám nhìn ra cái xấu, tức là càng muốn sửa mình, tức càng có nhiều người tình nguyện làm nghề vệ sinh quét dọn, càng làm cho khuôn mặt của xã hội tươi tắn hơn.

Người Việt xưa có câu: “Tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại”, giờ chúng ta nên thực hiện: Tốt đẹp phô ra, còn xấu xa thì hãy quét dọn. Chứ còn đậy lại, úm ba la thì ai phải ngửi? Có làm được như vậy, chúng ta mới thực hiện: Con hơn cha để nhà có phúc.

  • Nguyễn Đình Đức (Theo Tiền Phong)

Bệnh thi đua

Hồi học ở cấp 1 phổ thông mười năm, tôi nhớ việc thi đua rất đơn giản mà hiệu quả. Hàng tháng thầy giáo cộng điểm chia trung bình rồi chọn ra ba trò nhất nhì ba. Bức tường nơi bục giảng thầy ngồi, có một tấm bìa đề ba chữ “bảng danh dự”.

Ba trò nhất nhì ba lần lượt vào các vị trí cao thấp trên đó. Hết tháng, danh sách có khi lại thay đổi vì có những trò khác vươn lên. Hết năm thầy chọn trong nhất nhì ba ấy để lấy ra ba trò nhất nhì ba để khen thưởng.

Phần thưởng thời cách đây gần sáu mươi năm chẳng có gì ngoài cây bút mục và vở tập. Lớp ấy chúng tôi lớn lên đi kháng chiến, được đào tạo nhiều người thành đạt và đóng góp khá nhiều cho đất nước.

Ảnh minh họa

Cái cách thi đua thực tế và lặng lẽ đó hóa ra rất chính xác và công bằng. Thầy không phát động thi đua rầm rĩ, chỉ bảo thế này: “Các trò cố lên, các em học cho mình để sau này có kiến thức làm việc”. Còn về nhà thì mẹ bảo “học được thì ấm vào thân, phải tự cố gắng”.

Sau này chuyện thi đua đi vào đời sống, cơ quan nào cũng có ban có bệ, đăng kí thi đua. Có đóng góp sáng kiến xuất sắc nhưng không đăng kí từ đầu năm thì cũng… “out”. Bây giờ nhiều ý kiến lên án bệnh thành tích. Lên án nhưng chẳng giải quyết được gì vì cái tiêu cực này do các ban thi đua đẻ ra.

Nói thế chẳng lẽ lại không có thi đua. Tôi cho rằng cách làm thi đua của thầy tôi xưa hóa ra là tiên tiến, dù khá lặng lẽ nhưng nó thực tế. Ở Nhật, ngoài kỉ luật lao động nghiêm minh, họ cộng những sáng kiến, những ý kiến đóng góp từng tháng, từng năm đem lại hiệu quả chuyển biến cho cơ sở để thưởng và tăng lương. Bây giờ nhiều cơ quan trao phần thưởng, nhưng nhiều giải thưởng không được coi trọng vì nó ứ thừa và quá dễ dãi, thậm chí còn mua được.

Ai cũng kêu bệnh thành tích là nặng nề, nhưng các cơ quan chức năng lại không tích cực tìm biện pháp triệt tận gốc. Như chống tham nhũng, nếu coi chuyện thất thoát hàng tỉ đồng, lãng phí hàng tỉ đồng là đã nhấn chìm bao nhiêu cuộc đời những người đóng thuế, tội ấy có khác gì chuyện giết người từ từ thì mới giải quyết được tận gốc tham nhũng.

Chỉ nói bệnh thi đua, nếu không chịu cải tổ mô hình và những cách làm cũ kĩ thì sẽ khó có thể chuyển biến mạnh mẽ. Nguy lắm thay!

  • Theo Đỗ Đức (Thể thao văn hóa)

Tính ích kỷ của người thành thị

Cái kiểu xách rác từ nhà mình bỏ sang nhà khác thì chỉ những dân thành thị khôn lanh mới làm được. Với người sống ở thành thị, thói xấu dễ bộc lộ nhất là tính ích kỷ.

Không đồng ý quan điểm “tâm lý tiểu nông” là nguyên nhân chính cản trở việc xây dựng những đô thị văn minh, TS Nguyễn Hữu Nguyên, Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM, cho rằng biểu hiện của thói xấu phụ thuộc vào môi trường sống.

Đừng đổ cho “Hai Lúa mới ra”

. Những hành vi xấu của thị dân như chen lấn, vứt rác ra đường, cho chó ị bậy nhà người khác… nói lên điều gì, thưa ông?

+ Nó cho thấy tính ích kỷ là một thói xấu dễ nhận biết ở môi trường đô thị. Đặc điểm của đời sống đô thị là mật độ dân số rất cao, tần suất tiếp xúc cũng rất lớn. Do đó, tự do của người này luôn bị giới hạn bởi tự do của người khác. Người nào muốn mình lợi nhiều hơn sẽ đụng chạm đến lợi ích của người khác. Chứ ông Robinson hay Mai An Tiêm ở ngoài đảo hoang thì không thể hiện được tính ích kỷ, vì có va chạm với ai đâu. Nói cách khác, vấn đề là ai có tính ích kỷ, còn ở thành thị hay ở nông thôn chỉ khác nhau về hình thức biểu hiện.

Vứt rác như thế này, một hành vi thường thấy ở đô thị. (Ảnh chụp trên đường Trần Hưng Đạo, quận 1, TP.HCM) Ảnh: HTD)

. Có nhiều người cho rằng những hành vi ấy xuất phát từ “tâm lý tiểu nông”, ông nghĩ sao?

+ Thói xấu nhiều hay ít rất khác nhau ở mỗi người, đồng thời cũng khác nhau về hình thức biểu hiện ở những môi trường sống khác nhau. Chẳng hạn tính ích kỷ ở nông thôn có thể bộc lộ qua việc nhổ trộm vài củ khoai, vài trái bắp của người khác… Chứ ở nông thôn, trâu bò đi dưới ruộng, trên đường thì ít người đi, việc gì phải chen lấn.

. Nhưng chính vì thế mới quen với việc đi lại tùy tiện?

+ Người nông dân khi mới lên phố đi lại tùy tiện, hoặc thảy rác ra đường chỉ là do thói quen chưa bỏ được. Hành động ấy có thể chỉ là vô ý thức. Còn cái kiểu xách rác từ nhà mình bỏ sang nhà khác thì chỉ những dân thành thị khôn lanh mới làm được. Dân nông thôn mới ra phố rất sợ công an phạt, còn dân thành thị biết rồi nên nhìn ba góc ngã tư không thấy công an là phóng qua. Sống ở thành thị mà ích kỷ thì thói xấu đó khủng khiếp hơn nhiều chứ đừng đổ cho “Hai Lúa mới ra”.

Văn minh phải kèm điều kiện vật chất

Theo ông Nguyên, đô thị có rất nhiều cái “đa”: đa dân tộc, đa văn hóa, đa nghề nghiệp, đa trình độ… Nó chứa đựng tất cả các tầng bậc, từ thượng vàng đến hạ cám. Có thể nói hiện nay đô thị của chúng ta, số người đúng nghĩa thị dân vẫn còn ít hơn số người chưa đủ phẩm chất thị dân.

. Như vậy, có phải là ý thức thị dân của chúng ta chưa cao?

+ Có nhiều người đi nước ngoài về thường khen đường phố của họ sao mà sạch đẹp thế, ý thức dân họ sao cao thế, rồi chê dân ta ý thức còn kém quá nhưng người ấy quên rằng GDP của họ gấp mấy chục lần ta. Lúc còn nghèo, TP của họ cũng bê bối lắm. Văn minh đô thị phải đi kèm với điều kiện vật chất chứ!

Nhiều người nuôi chó chỉ muốn sạch nhà mình nên dắt cho đi bậy ở nhà người khác. (Ảnh: HTD)

Hơn nữa, ý thức người dân còn thấp là do nhiều nguyên nhân: Hạ tầng kinh tế kỹ thuật chưa đáp ứng được tính hiện đại, kỷ cương chưa nghiêm, người lãnh đạo chưa thấy hết trách nhiệm. Không thể đòi hỏi một lớp thị dân có sẵn ý thức mà chính lãnh đạo phải có trách nhiệm xây dựng ý thức cho lớp thị dân đó.

Tôi lấy ví dụ việc xếp hàng. Nhiều khi họ chen lấn không phải vì vội mà vì họ sợ không đến lượt mình. Giáo dục ý thức là một chuyện nhưng cũng phải tạo ra được những cái hàng ngắn để khi xếp hàng họ có thể yên tâm không sợ mất phần. Cũng có khi người ta có ý thức nhưng lại không có môi trường để thể hiện. Ví dụ, một anh đi nhậu về, cố tìm nhà vệ sinh mà không có thì cũng đến lúc phải tìm một gốc cây nào đó thôi!

Vấn đề là người thực thi pháp luật

. Ông nói văn minh đô thị phải đi kèm với điều kiện vật chất. Điều này được hiểu thế nào?

+ Cách đây khá lâu tôi có xem một vở hài kịch thế này: Anh đạp xích lô vượt đèn đỏ, bị cảnh sát giao thông kêu vào. Công an hỏi: Có thấy đèn đỏ không mà vẫn chạy. Anh ta đáp: “Dạ em nhìn thấy đèn đỏ nhưng không nhìn thấy anh. Đề nghị lần sau anh đứng ra chỗ trống cho bọn em nhìn thấy”. Như vậy, chừng nào “em không nhìn thấy anh (cảnh sát giao thông) nhưng vẫn bị phạt thì em mới không dám vượt đèn đỏ”.

Ở nhiều nước châu Âu, họ có camera theo dõi 24/24 giờ, dù không có cảnh sát nhưng anh vi phạm thì ngày mai vẫn nhận giấy báo nộp phạt. Nếu họ bỏ hết camera thì chắc cũng loạn xạ như ta thôi. Như vậy không phải ý thức của họ cao hơn ta. Mà chính là người dân bên họ bị pháp luật cùng những phương tiện công nghệ cao kiểm soát chặt chẽ hơn chúng ta, do đó mà hạn chế được nhiều hành vi xấu.

. Có người cho rằng pháp luật của ta chưa nghiêm nên người dân có điều kiện vi phạm nhiều hơn?

+ Theo tôi, “pháp luật chưa nghiêm” và “người thực thi luật pháp chưa nghiêm” là hai vấn đề khác nhau. Như luật giao thông của ta chẳng hạn, chặt chẽ không thua gì các nước tiên tiến nhưng vì sao kém hiệu lực? Vì người thực thi pháp luật còn rất lỏng lẻo. Sự nghiêm minh của pháp luật không phải ở chỗ cứ phạt thật nặng mà chính là ở chỗ người thực thi pháp luật phải thật nghiêm minh. Như hiện nay, có những người thực thi pháp luật chỉ “chưa nghiêm” đối với người… biết hối lộ mà thôi!

. Cảm ơn ông.

  • Thùy Linh (Theo tintuconline.vietnamnet.vn)

Ký ức rừng

Tôi không biết những cánh rừng mất đi có đem lại ấm no, hay giá trị hơn hẳn nó cho quê hương hay không. Tôi chỉ biết rằng mất rừng, nhiều thế hệ người Việt Nam sau này không biết đến những giá trị của rừng nguyên sinh, khi rừng còn bao phủ nhiều vùng miền quê tôi.

Nhìn bé “Bằng Lăng” đứng khép nép với những chiếc lá đỏ hoe như đôi mắt đầy nước, sắp nhỏ xuống những giọt buồn bã côi cút, bên hè một ngôi nhà, lòng tôi rưng rưng thương cảm và bất chợt nỗi nhớ về một cánh rừng Bằng Lăng thắm đỏ, dâng tràn tâm tư. Có lẽ, ít người Việt Nam biết rằng: vào mùa này, cái thời điểm thu đang dùng dằng từ biệt và mùa đông vừa mới ngấp nghé nơi chân trời, thì trên những cánh rừng nhiệt đới miền Đông của nước ta, từng có vùng lá đỏ đẹp không thua kém bất kỳ cánh rừng nào. Trong đó, có cánh rừng bằng lăng?

Vào thập niên 70 của thế kỷ trước, (nói nghe có vẻ xa lắc, xa lơ nhưng thật ra thời gian mới chỉ bằng một cậu bé từ sinh ra và trở thành người đàn ông đúng nghĩa ở tuổi ba mươi). Vào một ngày của mùa này, tôi và vài người nữa đã lang thang ở cánh rừng phía Đông của dòng sông Đồng Nai. Chúng tôi hăm hở băng qua nhiều cánh rừng cốt để tìm một rừng tre, lồ ô nguyên sinh. Có lúc, chúng  tôi đi trên những lối mòn, có lúc, cứ nhìn mặt trời rồi nhắm hướng tây mà cắt. Hết một cánh rừng là mảng cỏ xanh non, màu xanh ngọt mướt, sức sống tràn đầy ngồn ngộn trên những khu đầm lầy. Hết đầm, tiếp giáp một cánh rừng khác. Bất ngờ, chúng tôi lọt vào một cánh rừng Bằng Lăng bạt ngàn. Chao ôi! Bừng bừng một  trời lá đỏ! Nhìn lên, không gian như cháy sáng bởi ngọn lửa từ sắc hừng  của lá thắm vừa dịu dàng, vừa nồng nàn, và cũng vô cùng miên man.

Chúng tôi rạo rực bước lang thang trong cánh rừng Bằng Lăng, chẳng còn ai chú ý đến đám vắt ngoe nguẩy trong lớp lá mục, có lúc, chúng cắn no nơi bắp chân rồi lăn cái mình đã  tròn căng, bóng lưỡng rớt xuống mặt lá chết. Bởi những cây bằng lăng thẳng vút, to hai người choàng tay không hết, hoặc nhỏ hơn một chút, thân sáng trắng, vươn những cánh tay khỏe khoắn như muốn chống đỡ bầu trời xanh. Bên trên cánh rừng, những khoảng sáng, hệt như các cánh cửa mở vào một lối thiên thai nào đó. Cánh rừng Bằng Lăng hùng tráng, rưng rưng những cánh lá đỏ chấp chới đã hớp hồn chúng tôi.

Thật lạ, bên dưới tán rừng Bằng Lăng rất thoáng, chỉ một lớp cỏ mọc thấp, chứ không chằng chịt cây non như loại rừng khác. Vì vậy, những  cơn gió bay qua, lớp lớp lá đỏ chòng chành rời cành bay lảo đảo, rồi nhẹ nhàng đậu thiêm thiếp trên mặt đất. Những chiếc lá thu hết tàn lực, tự cháy lên sự khát khao được đẹp lần cuối cùng, trước khi hóa kiếp.

Về sau, tôi còn biết rằng, trong số những cây Bằng Lăng quí giá của cánh rừng nọ, có những thân là Bằng Lăng bông lau, gỗ trắng, vân hồng, thịt mịn đẹp tuyệt vời! Ngày nay, những miếng gỗ Bằng Lăng bông lau có đường kính từ nửa mét trở lên, chỉ có mặt trong những bộ đồ gỗ ở những gia đình lắm tiền, nhiều của. Nhưng lúc đó, tất cả chúng tôi chỉ lo ngắm lá đỏ đang cháy rực trên bầu trời, lòng trào dâng một niềm tự hào khôn tả về quê hương, đất nước.

Vào những năm đầu thập niên 80, tôi thường xuyên qua lại trên con đường mòn từ ngã ba Lăng Minh qua Sông Rây, quẹo về Bàu Lâm, xuôi xuống Hòa Bình, Bà Tô, gần đến Bà Rịa – Vũng Tàu (ngày nay, con đường này có đoạn trở thành đường tỉnh lộ, đường quốc lộ, đẹp nhất nước). Nhưng khi đó, đoạn từ Sông Rây đến Bàu Lâm toàn đi qua rừng già.

Con đường như một sợi chỉ mỏng manh đỏ ngầu, bò len lỏi giữa những cánh rừng nguyên sinh trùng trùng. Nhưng những cánh rừng ấy long lở từng giờ. Máy ủi, máy cưa, máy cày gầm rú ầm ầm trong cơn khát khao đốt phá. Khói đốt rừng bốc lên nghi ngút mù trời. Những cây gỗ quí như Lim, Cẩm lai, Gõ đỏ, Bằng Lăng, Trai… nếu may mắn thì theo xe buôn gỗ đi muôn nơi, nhưng không ít bị vứt vào ngọn lửa đốt  rừng hối hả. Còn những gốc mai hàng trăm năm tuổi thì gần như chẳng ai đoái hoài gì đến, chúng ngậm ngùi thành tro trong lặng lẽ cùng trăm ngàn loài cây rừng khác.

Người ta đốt, người ta cày xới, người ta đốn hạ những cánh rừng nguyên sinh hấp tấp, hối hả, mau mau. Những cánh rừng thiên nhiên mất hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm kiến tạo, chỉ trong nháy mắt cuộc đời đã bay hơi như chưa từng hiện diện bao giờ. Mỗi ngày, hàng trăm héc ta rừng đổ nghiêng, bật gốc rồi cháy rụi. Sức tàn phá của con người so với bão táp của trời đất, thì kinh khủng hơn gấp ngàn lần. Tốc độ đó đã làm cho muôn thú trong rừng không lối thoát, phần lớn, chúng bị dồn vào con đường tuyệt chủng vì mất nhà ở, mất nơi kiếm sống, như bầy voi chẳng hạn.

Tại những cánh rừng huyện Xuyên Mộc, vào những năm 1983 – 1984, từng có voi sa vào hố bom ngay trên đất mới phá rừng. Ban ngày, hàng trăm người tụ tập đến gần để xem con voi mắc nạn, có người còn mang đến hàng vác mía từ nông trường Sông Rây cho chúng ăn, mặc dù bầy voi lẩn quẩn đâu đó vì không nỡ bỏ con voi kém may mắn, chúng cất tiếng hú gọi đầy phẫn uất và bi thương.

Cuối cùng, người ta cũng tìm được cách giúp con voi lên khỏi hố bom. Cả bầy voi đã phủ phục bái tạ trước khi kéo nhau bỏ đi. Với tôi, đàn voi đó có lẽ chính là đàn voi cuối cùng về sau đã tụ tập về khu rừng núi Ông – Tánh Linh – Bình Thuận, bởi vì cả một vùng miền tiếp giáp từ Bình Châu, Xuyên Mộc, Xuân Lộc, Hàm Tân và Tánh Linh chạy liền đến dưới chân những dãy Trường Sơn hùng vĩ ngăn chia Bình Thuận với Tây Nguyên ở cuối phía Nam. Bây giờ, rừng đã co cụm lên núi cao, và ngay cả nhiều đồi núi trên Trường Sơn ở khu vực này cũng đã trọc lóc, từ dưới nhìn lên, núi cứ đỏ loang như máu chảy, chứ không xanh mịt mùng như mấy chục năm trước.

Những cánh rừng toàn bộ của khu vực trên giờ đã là những nông trường, những công ty cao su, trong số đó phần lớn đã cổ phần hóa tư nhân, bởi vì nhiều đơn vị quốc doanh từng làm ăn thua lỗ.

Tôi có nhiều chuyến lang thang bên dưới những cánh rừng cao su, trong đó có chuyến đi tìm một huyền thoại đã chết, huyền thoại về một con voi trắng. Trong nhân gian nhiều vùng ở Tây Nguyên và miền Đông từng đồn thổi rằng, vua Bảo Đại sau khi thoái vị về sống ở Đà Lạt từng nuôi một con voi trắng. Khi gia đình ông rời Việt Nam đã thả con voi trắng về rừng và trên cổ nó có mang vật kỷ niệm đó là một sợi xích bằng vàng?

Chuyện hư thực ra sao không biết, nhưng người dân sống ở gần đồi Bảo Đại, ngọn đồi này nằm ở phía tây, thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, nơi tiếp giáp với những cánh rừng của ba tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Thuận. Ngọn đồi trước đó được đặt tên là đồi Con Sò, những năm 1952 – 1953, quốc trưởng Bảo Đại đến đây săn bắn và nghỉ lại trên đỉnh đồi, từ đó, người dân vùng này gọi tên đồi thành đồi Bảo Đại cho đến ngày nay. Khi rừng còn vây bọc bình nguyên chung quanh ngọn đồi, nhiều người dân nơi này chỉ vào những  dấu chân voi về làng, rồi thì thầm rằng dấu chân ấy chính là của “ngài voi trắng”.

Huyền thoại con voi trắng từng khoác lên mình những cánh rừng nhiệt đới miền Đông, rừng giáp ranh Tây Nguyên một vẻ đẹp lãng mạn, bí ẩn. Nhưng nay rừng chỉ còn trong ký ức, con voi trắng cũng chẳng có nơi nào trú ẩn, câu chuyện chết trong nối tiếc của bao người.

Tôi không phải là một nhà chiến lược, càng không am hiểu về kinh tế, chẳng biết gì về khoa học. Những cánh rừng mất đi có đem lại ấm no, hay giá trị hơn hẳn nó cho quê hương hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết rằng mất rừng, nhiều thế hệ người Việt Nam sau này không biết đến những giá trị của rừng nguyên sinh, khi rừng còn bao phủ nhiều vùng miền quê tôi.

  • Minh Nhựt ( Theo tuanvietnam.net)

Kênh rạch Tp.HCM đang chết dần

Khi thành phố chưa kịp khắc phục xong ô nhiễm hệ thống kênh rạch nội thành thì kênh rạch khu vực ngoại thành đã bắt đầu gia tăng ô nhiễm cả mức độ lẫn quy mô. Có thể kể một loạt các con kênh giãy chết vì ô nhiễm như kênh Ba Bò (Thủ Đức), Thầy Cai – An Hạ (khu vực Lê Minh Xuân, Bình Chánh), Suối Cái – Xuân Trường (Thủ Đức, quận 9), Thầy Cai – An Hạ (khu vực Tân Phú Trung, Củ Chi),…

Kênh Thầy Cai khu vực giáp ranh Long An – Củ Chi nay đã trở thành dòng kênh hấp hối

Bà Võ Thị Thiên An sống trong căn nhà tạm chênh vênh bên cầu Thầy Cai thuộc xã Tân An Hội, huyện Củ Chi, TP.HCM, cho biết con kênh Thầy Cai đã thúi đen cách đây bốn năm. Từ nửa đêm trở về sáng thì thúi đến mức không thở được, phải bật quạt mới ngủ nổi. Bà An kể: “Hồi xưa tui giặt đồ, rửa chén, cọ nồi bình thường, bây giờ thì không dám đụng tới một chút”.

Thúi muốn bỏ ăn tết

Tại khu vực cầu An Hạ, nằm giữa ranh giới huyện Hóc Môn và Củ chi, và khu vực Cầu Bông, xã Tân Hiệp, Hóc Môn, nước kênh cũng đen và hôi không kém. Chị Mây bán nước bên tỉnh lộ 22 cho biết, các công ty tại khu vực này thường lén xả nước thải ra sông vào cuối tuần, đặc biệt cứ vào những ngày tết, nước thải ra y như nước hầm cầu, đen kịt dòng sông, thúi đến nỗi người dân không còn muốn ăn tết!

Tình hình ô nhiễm kênh Thầy Cai – An Hạ – một trong những kênh chính phục vụ hoạt động thuỷ lợi và tưới tiêu trong nông nghiệp của Hóc Môn và Củ Chi (chảy qua khu công nghiệp Tân Phú Trung) hiện đã ở mức độ báo động. Theo chi cục Bảo vệ môi trường TP.HCM, nguyên nhân chính là do hoạt động sản xuất công nghiệp của khoảng 45 đơn vị trong khu công nghiệp Tân Phú Trung và dọc kênh An Hạ, kênh Xáng, rạch Tra. Hầu hết các đơn vị này đều hoạt động với các ngành nghề gây ô nhiễm cao như sản xuất giấy, cán rửa cao su, sản xuất cồn, giặt tẩy… với lượng nước thải chưa xử lý hoặc xử lý chưa triệt để rồi thải trực tiếp vào kênh Thầy Cai – An Hạ và các nhánh kênh xung quanh. Các chỉ tiêu oxy hoà tan DO, nhu cầu oxy sinh hoá BOD, nhu cầu oxy hoá học COD, tổng chất rắn lơ lửng… tại đa số các điểm quan trắc khu vực này đều vượt chuẩn cho phép, trong đó ô nhiễm vi sinh gấp quy chuẩn loại B1 (mục đích tưới tiêu thuỷ lợi) từ 31 – 180 lần.

Nhiễm vi sinh gấp 12.400 lần

Theo kết quả quan trắc, giám sát cuối năm của chi cục Bảo vệ môi trường TP.HCM, hầu hết các chỉ tiêu năm nay đều tăng so với năm 2008 từ vài đến vài chục lần, trong đó, ô nhiễm kim loại nặng đã xuất hiện tại khu vực Suối Cái – Xuân Trường, Ba Bò. Tại kênh Thầy Cai – An Hạ, ô nhiễm nhiều nhất tại kênh 6, 8, trong đó ô nhiễm vi sinh tại kênh An Hạ gấp tới 12.400 lần với quy chuẩn Việt Nam loại B1; oxy hoà tan DO – một trong những thông tin đầu tiên, rất quan trọng để đánh giá môi trường nước có còn sự sống hay không – tại ngã ba sông Sài Gòn thuộc địa bàn xã Nhị Bình, Hóc Môn chỉ 0,00mg/l (chỉ mới so riêng với nguồn nước mặt loại B2 dùng cho giao thông thuỷ là phải đạt ít nhất ≥ 2mg/l)…

Theo ông Nguyễn Đinh Tuấn, hiệu trưởng trường cao đẳng Tài nguyên và môi trường TP.HCM, tốc độ đô thị và công nghiệp ở ngoại thành hiện nay rất nhanh với sự ra đời của hàng loạt khu công nghiệp nhưng cơ sở hạ tầng không đáp ứng được. Dân số tăng nhưng hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tập trung không có. Mãi cuối năm 2008 các khu công nghiệp mới xây dựng xong hệ thống xử lý nước thải (nhưng vận hành ở mức độ nào thì chưa kiểm soát được), riêng khu công nghiệp Tân Phú Trung đến nay vẫn chưa làm xong hệ thống xử lý nước thải… Nguy hiểm hơn, kênh rạch ô nhiễm đã kéo theo sông ngòi ô nhiễm. Điều này sẽ ảnh hưởng vô cùng đến sự phát triển của đô thị, vì đây là nguồn cung cấp nước chính cho thành phố.

  • Bài và ảnh: Lê Quỳnh

Nói ngọng

Vương Trí Nhàn

Theo Blog Vương Trí Nhàn

Cách đây ba bốn chục năm, trong các gia đình Hà Nội, người ta đã có nỗi lo là lo con cái nói ngọng. Đáng nói làm gì thì đọc nàm gì, đáng giới thiệu với người khác tôi ở bên Hàng Lọng thì bảo tôi ở bên Hàng Nọng. Cái ngọng bấy giờ thật rõ quê mùa, mộc mạc.

Ngày nay, lối ngọng ấy hầu như đã được thanh toán, nhưng lại nảy nòi một lối ngọng mới: ngọng ngược. Sáng sáng, cái xe đạp bánh mỳ rong đánh thức cả khu tập thể bằng tiếng rao lanh lảnh “Bánh mỳ lóng đây!”. Trưa trưa, mấy cô quang gánh qua nhà thiết tha mời mọc “Có ai ăn rượu lếp?” Bạn bè rủ nhau: “Ra làm chén lước đã”. Đồng hương lâu này gặp nhau kể chuyện “Dạo lày thằng ấy ló trúng quả lắm!.

Nhưng đây chưa phải là chỗ duy nhất phân biệt cái ngọng thời nay với cái ngọng thời xưa. It ra, còn phải lưu ý mấy “nét đặc thù” nữa.

Một là, trong số người bây giờ, có cả những người tạm gọi là rất có văn hoá. Cả một số học sinh cấp ba, một số sinh viên cũng nói ngọng. Người đang đi học, không được chữa chạy kịp thời, cố nhiên là nguồn bổ sung vô tận cho người đã ra trường ngọng một cách công khai thoải mái.

Hai là, không gian để người ta nói ngọng đang được mở rộng, cách nói ngọng đang xâm nhập cả vào những khu vực xưa kia nó bị cấm cửa. Người ta nói ngọng ở nơi công cộng, nhà ga, bến tàu, lúc về bên mâm cơm với gia đình đã đành, có người lại còn nói ngọng cả khi có việc lên đài, lên ti-vi nói cho cả triệu người nghe. Nhiều người Việt Nam ra nước ngoài vẫn nói ngọng trước sự ngạc nhên của người nước ngoài học tiếng Việt, họ (những người nước ngoài ấy) tưởng đấy là một thứ tiếng Việt mà họ chưa biết!

Nỗi lo này có phần giống với nỗi lo của một người làm nghề nghiên cứu ngôn ngữ. Sau khi nhận ra rằng hình như bây giờ ai muốn nói ngọng thì tuỳ, không ai thấy ngượng vì nói ngọng và nghe người khác nói ngọng nữa, trong đầu óc anh chợt nảy ra một dự báo khoa học:

– Tôi chỉ sợ khi nhiều người nói ngọng quá thì lâu dần, lại hoá ra họ nói đúng, mà mình lại bị coi là nói ngọng không biết chừng. Bấy giờ khi mình nói mình đang làm việc ở Hà Nội, người ta sẽ bảo là ngọng rồi. Hà Lội mới đúng” – và câu đầu tiên của Truyện Kiều phải sửa thành:
“Trăm lăm trong cõi người ta.”

Ông bí thư tuyên chiến với túi nilông

“Có ổng, dân xã đảo tui có đường đi, nước sạch; biết cách giữ rừng, giữ biển; góp phần tạo nên khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm. Đây cũng là nơi đầu tiên của cả nước nói không với túi nilông” – một lão ngư thôn Bãi Làng nói về ông Nguyễn Sự – bí thư Thành ủy Hội An – như thế.

Ông Nguyễn Sự trò chuyện với bà con ngư dân, vận động bà con “nói không với túi nilông” – Ảnh: Hoàng  Duy

Lão ngư này bảo thêm: “Ông nớ nói là làm”. Đến nay, hầu như cư dân Cù Lao Chàm đã bỏ hẳn được thói quen dùng túi nilông trong sinh hoạt hằng ngày – cái thói quen đã ăn sâu vào cuộc sống bao nhiêu người trên hành tinh này.

“Cù Lao Chàm nói không với túi nilông”

Đó là câu khẩu hiệu mà ông Sự đưa ra và biến nó thành hiện thực chỉ trong một thời gian chưa đầy hai con trăng. Nói là làm. Và hiện nay không ít người thật sự ngạc nhiên khi trở lại Cù Lao Chàm những ngày gần đây, khi hòn đảo xinh đẹp này sạch sẽ, không còn bóng dáng những bãi rác thải và túi nilông.

Ông Sự nhớ lại: “Tháng 10 năm ngoái, đoàn công tác của thành phố ra đảo để họp dân bàn biện pháp giữ vệ sinh môi trường cho đảo, và hoàn thành hồ sơ đề nghị Unesco công nhận Cù Lao Chàm là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Lúc tàu gần cập bến thôn Bãi Làng, ai cũng không vui khi thấy túi nilông trôi lềnh bềnh trên biển rồi theo sóng tấp vào bờ cát. Còn trên bãi biển dọc đường đi thì cơ man là rác thải mà chủ yếu là túi nilông.

Tôi chợt nghĩ cứ đà này chẳng bao lâu Cù Lao Chàm sẽ trở thành bãi thải các loại túi nilông của cư dân địa phương và du khách. Nếu vậy làm sao giữ được môi trường Cù Lao Chàm sạch đẹp? Mà đây mới chính là yếu tố thu hút và giữ chân du khách”.

Một ý tưởng lướt nhanh qua đầu người lãnh đạo cao nhất của Hội An: chỉ còn cách phải vận động dân đảo không dùng túi nilông và buộc du khách đến Cù Lao Chàm không dùng vật dụng nguy hại này mới mong giữ được môi trường của khu dự trữ sinh quyển này không bị ô nhiễm. Và phải vận động các cơ quan, ban ngành của Hội An cùng một suy nghĩ như thế.

Công ty du lịch và người dân cùng hưởng ứng

Với khách du lịch tới Cù Lao Chàm, UBND xã Tân Hiệp yêu cầu các công ty lữ hành phải in câu “Cù Lao Chàm nói không với túi nilông” trên tờ rơi, vé tàu và buộc các hướng dẫn viên phải có trách nhiệm nhắc nhở khách hàng của mình không sử dụng túi nilông.

Xã cũng yêu cầu các hộ kinh doanh phải cam kết bằng văn bản, điểm chỉ hoặc ký tên rõ ràng: không sử dụng túi nilông gói đồ cho khách. Hễ tàu du lịch nào cập bến Cù Lao Chàm, các lực lượng xung kích của xã trực sẵn ở cầu tàu và kiểm tra, nếu du khách nào đem túi nilông lên đảo thì đổi ngay cho họ túi giấy hoặc túi tự hủy có in dòng chữ “Vì Cù Lao Chàm, vì đảo xanh, biển xanh” bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh.

Vài lần như vậy, đến nay hầu như du khách đã quen dần với câu “nói không với túi nilông”. Nhiều người không giấu được vẻ thích thú. Chị Mergi – quốc tịch Pháp – đã nói như reo khi biết Cù Lao Chàm không sử dụng túi nilông: “Ồ hay quá, đây là một sáng kiến tốt. Giá mà các địa điểm du lịch ở nước chúng tôi cũng biết nói không với túi nilông sẽ rất tuyệt”.

Nghĩ là làm. Một cuộc hội ý chớp nhoáng của ông Sự với các cộng sự cùng đi trên tàu. Kết quả ngoài mong đợi, ý tưởng của bí thư thành ủy đã nhận được sự ủng hộ của mọi người.

Không hô khẩu hiệu, không ký giao kèo, nhưng trong suy nghĩ của những người có mặt trên con tàu hôm đó đều cùng một hướng: phải giữ cho môi trường Cù Lao Chàm trong lành, sạch đẹp. Nhưng làm gì thì làm, trước hết phải vận động bà con trên đảo không sử dụng túi nilông.

Nếu vận động bà con đồng thuận không dùng túi nilông thì phải có vật dụng gì thay thế. Không thể nói suông. Trước khi đưa ra cuộc vận động, ông Sự đã nhờ người quen ở TP.HCM tìm nơi sản xuất túi nilông tự rã, tự hủy. Cả bí thư và các cộng sự cùng hành phương Nam tìm đến tận nơi sản xuất túi nilông tự hủy mua gần 5.000 chiếc đem về phát cho dân sử dụng.

Ông Sự còn buộc cơ sở sản xuất cam kết nếu mua về đem đốt thử loại túi bảo vệ môi trường này mà còn khét mùi nilông là đem trả. Với loại túi tự rã trong vòng 120 ngày ông Sự cũng kiên quyết cho đem chôn để thử nghiệm, nếu không tự rã sẽ không mua.

Cùng với việc mua túi tự hủy phát không cho các hộ dân thay thế túi nilông đựng rác, ông Sự đề xuất tặng thêm mỗi gia đình hai giỏ nhựa đi chợ. Hưởng ứng ý tưởng của người đứng đầu thành phố, một doanh nghiệp làm du lịch tại Hội An là Công ty TNHH Á Đông Silk góp kinh phí mua 1.300 giỏ nhựa tặng người dân Cù Lao Chàm.

“Vì biển xanh, đảo xanh”

Đầu tháng 6-2009, đoàn công tác của thành phố ra Cù Lao Chàm họp với dân để phát động chương trình “Nói không với túi nilông”. Các biểu ngữ với ngôn ngữ dễ hiểu và nội dung thiết thực được treo ở khắp các nẻo đường, ngõ xóm “Vì Cù Lao Chàm, vì biển xanh, đảo xanh”, “Xách giỏ đi chợ – phong cách của người nội trợ”, “Tiết kiệm bao bì là bảo vệ môi trường”…

Cuộc họp tổ chức tại thôn Bãi Làng có gần 500 đại diện hộ dân dự. Tại đây, ông Sự trao đổi với bà con xã đảo mình lợi ích của việc không sử dụng túi nilông để bảo vệ môi trường Cù Lao Chàm, khuyến khích bà con hằng ngày đi chợ bằng giỏ nhựa và gói thực phẩm bằng các loại lá rừng có sẵn. Rồi tự tay ông Sự phát cho mỗi chị em hai giỏ nhựa.

Bà con ủng hộ rần rần bởi họ tin ông Sự, tin vào những điều ông nói và việc mà ông đã làm cho người dân xã đảo, để hôm nay Cù Lao Chàm là khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận. Ông Nguyễn Trúc – một ngư dân ở thôn Bãi Làng – chân chất bảo: “Ông Sự nói gì tui cũng tin và sẽ làm theo, bởi ông ấy chỉ mang điều tốt đến cho bà con mình. Nếu không có rác thải từ túi nilông, Cù Lao Chàm sẽ sạch hơn thì du khách đến nhiều hơn, dân trên đảo có thêm nguồn thu nhập từ các dịch vụ du lịch…”.

Riêng học trò trên đảo được vận động làm kế hoạch nhỏ bằng cách đi nhặt túi nilông để giao nộp và được trả tiền với giá ngang bằng túi nilông mới. Ra đảo thấy học trò đi tìm nhặt túi nilông làm kế hoạch nhỏ, Bí thư Nguyễn Sự vui lắm: “Bọn trẻ sẽ là những người gìn giữ tốt môi trường Cù Lao Chàm ngay bây giờ và trong tương lai. Người lớn sẽ nhìn vào đó mà biết cách kiềm chế và không lặp lại thói quen dùng túi nilông. Không lẽ con cháu mình đi gom nhặt túi nilông để bảo vệ môi trường mà người lớn lại sử dụng thì coi sao được”.

Để giải quyết rác thải ở Cù Lao Chàm, thành phố Hội An đầu tư 400 triệu đồng đóng mới một chiếc tàu có thể chở được 7 tấn rác/ chuyến và mỗi tuần hai lần chở rác vào đất liền xử lý. Ông Sự phân tích: “Mỗi năm Hội An chi khoảng 2 tỉ đồng cho việc thu gom rác thải ở Cù Lao Chàm. Thà mất mỗi năm vài tỉ đồng mà giữ được Cù Lao Chàm trong lành, nguyên sơ. Cái được từ môi trường đem lại cho cư dân xã đảo này sẽ lớn hơn rất nhiều”.

  • Kim Em (Theo TTO)