Xin đừng “bóp cổ” công viên

Mất không gian công cộng, mất công viên, chúng ta không chỉ mất những lá phổi xanh của mình mà còn mất ký ức, mất bản sắc…

Theo thống kê của Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam gần đây, diện tích cây xanh công cộng trên đầu người ở nội thành Hà Nội là 0,9 m2/người. Diện tích cây xanh này gồm cây xanh ở các vườn hoa, công viên, ở các dải phân cách đường và trên các vỉa hè đường.

Trong khi đó, tỷ lệ này trên thế giới rất cao: ở London, Berlin, New York, Moscow đều gần 30m2/người. Tỷ lệ trên ở TP.HCM còn thấp hơn, khoảng 0,7m2/người. Hà Nội đang đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, tỷ lệ này sẽ là 16m2/người. TP.HCM đặt chỉ tiêu “hiện thực” hơn: 4-5m2/người cho đến năm 2025. Tại sao ta dùng từ “hiện thực” ở đây?

Bởi vì các đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM sẽ ngày càng phình to vì sự di dân cơ học từ nông thôn ra thành thị. Nhà cửa, đường sá sẽ là ưu tiên hàng đầu rồi mới đến công viên cây xanh. Chưa nói đến chuyện đặt mục tiêu mở rộng diện tích cây xanh công cộng, chỉ cần lo giữ cho làm sao các công viên, vườn hoa hiện tại không bị “bóp cổ” bởi vô số các hoạt động thương mại, dịch vụ khác là tốt lắm rồi.

Tình trạng phổ biến hiện nay ở các vườn hoa là mặt bằng bị chiếm dụng để kinh doanh quán giải khát, quán nhậu với bàn ghế bày ra bít hết đường chạy của người tập thể dục. Nhiều mặt tiền công viên bị chiếm dụng để kinh doanh cây cảnh, mở siêu thị, làm bãi giữ xe. Còn khuôn viên bên trong công viên bị chiếm dụng để làm sân quần vợt, sân khấu ca nhạc, nhà hàng tiệc cưới. Như công viên Tao Đàn rộng 18ha ở TP.HCM chẳng hạn, công ty cây xanh chỉ quản lý có 9,8ha, phần còn lại là trụ sở các cơ quan, cửa hàng kinh doanh, dịch vụ ăn uống.

Công viên Thống Nhất là công viên lớn nhất ở Hà Nội với 27,8 ha diện tích mặt đất và 21ha mặt nước. Nhưng nếu so với các công viên trên thế giới thì chưa thấm vào đâu. Central Park ở New York rộng 341ha, quần thể Hyde Park và Kensington Gardens ở London rộng 253ha. Vậy mà Thống Nhất còn nhiều phen bị nhăm nhe “xẻ thịt”.

Năm 2007, dưới sức ép của dư luận, dự án Disneyland xây dựng trong khuôn viên công viên Thống Nhất đã bị hủy bỏ. Nhưng đến năm 2009, dự án khách sạn Novotel on the Park của liên doanh Tập đoàn Accor, Tập đoàn đầu tư SIH và Tổng công ty Du lịch Hà Nội lại chèn vào đó. Novotel on the Park đã gây lên sự bất bình mạnh mẽ trong nhân dân.

Central Park nằm ngay ở khu Manhattan giàu có nhất New York, thủ đô tài chính của thế giới. Nếu chính quyền New York mà cho “xẻ thịt” Central Park để làm các khách sạn thì họ đã kiếm được bộn tiền. Nhưng họ không bao giờ làm thế bởi công viên được mở năm 1859 này là trái tim và lá phổi của thành phố, mỗi năm đón tới 25 triệu lượt khách. Các tòa nhà cao ốc có thể được dựng lên rất nhiều nhưng không tòa nhà nào thay thế được tính biểu tượng cho New York của Central Park. Một khi công viên bị “xẻ thịt” thì không thể nào “đắp thịt” lại cho nó được nữa.

Một trong các yếu tố nhằm nâng cao diện tích cây xanh công cộng của một thành phố là nâng cao diện tích cây xanh ở các khu chung cư, đô thị mới. Song nhiều nhà đầu tư thiếu hợp tác trong lĩnh vực này. Quy chuẩn về mật độ xây dựng ở một khu đô thị mới được Bộ xây dựng ban hành là không được quá 40% nhưng tại nhiều khu đô thị, mật độ xây dựng lên tới 70%. Các nhà đầu tư thường xây các khu nhà “chật căng” trong khu đất của mình để tối đa hóa lợi nhuận. Ở các khu tập thể, chung cư cũ, diện tích cây xanh, sân chơi cũng đang “teo biến” dần để nhường chỗ cho nhà cửa, các hoạt động, kinh doanh.

Mọi người có vẻ như đang nỗ lực biến không gian công cộng thành không gian riêng của mình. Có một kiến trúc sư từng nói: “Không gian công cộng là nơi lưu giữ các ký ức của một cộng đồng”. Mất không gian công cộng, mất vườn hoa, mất công viên, chúng ta không chỉ mất những lá phổi xanh của mình mà còn mất ký ức, mất quá khứ, mất bản sắc…

* Tính theo đầu người, số lượng công viên trong thành phố chúng ta là ít, nhưng thực tế công viên lại đang bị “dư” vì chẳng có mấy người thích vào vì tình trạng bát nháo ở đây. Trước khi nghĩ đến việc xây thêm những công viên mới, tôi nghĩ chúng ta cần cải tổ những công viên hiện có (tình trạng hồ không có nước, cây xanh chết khô, hoa thì xơ xác) để chúng có thể thành những mảng xanh thực sự cho thành phố. Ngô Thanh Hải (32 tuổi, kỹ sư, Lam Sơn JOC)


* Tôi từng nghe tin về dự án xén đất ở công viên Thống Nhất (Hà Nội) để xây khu vui chơi, khách sạn. Hình như cũng đã tiến hành cắt xén được vài ngày rồi, nhưng vì cộng đồng kiến nghị mà kế hoạch này phải ngưng lại. Nghe mà thấy chán. Cứ cái kiểu chạy đua xây cao ốc, khách sạn, trung tâm thương mại như hiện nay, thành phố mình chẳng mấy chốc vắng bóng công viên. Nguyễn Phương Chi (24 tuổi, giảng viên đại học KHTN, TP.HCM)

Thành phố nhiều cây xanh nhất thế giới

* Sacramento – thành phố nổi tiếng của bang California (Mỹ) là nơi có số lượng cây xanh nhiều hơn bất kỳ thành phố nào khác trên thế giới (bao gồm cả Paris, Pháp).

* Nhờ có nhiều tán cây xanh bao phủ khắp nơi, ở Sacramento mùa hè rất mát mẻ, nhiệt độ cao nhất chỉ 36 độ C. Người ta cho rằng, bầu không khí luôn trong lành, dễ chịu dưới tán cây xanh cũng giúp các lái xe bình tĩnh hơn khi cầm vô-lăng.

* Hiện nay, thành phố Sacramento đang thực hiện kế hoạch 40 năm để tăng gấp đôi số lượng cây xanh bao phủ. Kế hoạch này do tổ chức phi lợi nhuận Sacramento tree foundation (Quỹ phát triển cây xanh Sacramento) thực hiện, kêu gọi những người dân tình nguyện tham gia trồng thêm cây xanh khắp các nẻo đường, con phố với mục tiêu là đạt số lượng 5 triệu cây xanh mới vào năm 2025.

* Nếu Sacramento thành công thì ngoài việc giúp không khí trong lành hơn, nguồn nước sạch hơn… còn giảm đi một nửa số lượng những ngày sương mù ở đó, một nhà khoa học của Nasa cho biết như vậy.

  • Đinh Hiệp (Theo Thanh Nien Online)

Biết mình muốn gì

Nguyên Ngọc
Nghĩ dọc đường- Nhà xuất bản Văn nghệ

Trong một chuyến đi ra nước ngoài vừa rồi, tôi có gặp một câu chuyện ngồ ngộ, như sau: một cặp vợ chồng trẻ người Việt, do những hoàn cảnh nhất định, nay đang sống ở một nước châu Âu. Họ có một cậu con trai, sinh ở nước ngoài, hiện mới lên năm. Năm ngoái, ông ngoại cháu từ trong nước ra thăm, sống với con cháu được mấy tháng. Ông cụ là cán bộ nhà nước đã về hưu, thuộc loại người cực tốt trong xã hội ta, suốt đời thanh bạch, giản dị, tận tụy với việc nước cũng như việc nhà. Con gái, con rể và cháu cũng hết sức quý bố quý ông. Một dịp đoàn tụ thế này, dễ gì có được và chắc gì còn có lần sau nữa…

Nhưng rồi sống với nhau mới gần tháng, trong cái tổ ấm con con ấy dần dần lại nảy sinh một chuyện chẳng đâu vào đâu, thoạt đầu thật nhỏ nhặt, thậm chí hơi buồn cười, nhưng rồi ngày bỗng trở nên phiền phức một cách chẳng ai ngờ. Chuyện nhỏ lắm, chỉ có thế này thôi: hỏi ông cần bất cứ điều gì, ông cũng đều không có ý kiến. Đấy là một con người quen sống sao cũng được. Hỏi ông muốn đi chơi những đâu, ông bảo đi đâu chả được, tùy chúng mày thôi. Hỏi ông định mua quà gì cho bà, ông bảo ối dào, quà gì chẳng là quà, quý là ở cái tình ấy mà. Hỏi ông muốn tiếp tục xem ti vi, hay tắt đài để cho ông ngủ sớm, ông bảo muốn thế nào cũng được. Hỏi ông muốn ăn món gì, ông bảo ăn gì cũng xong. Hỏi ông muốn uống bia hay uống rượu, ông bảo bia rượu gì tuỳ các con thôi. Thậm chí trong bữa ăn hỏi ông muốn ăn nữa không, ông bảo ăn thêm cũng được, thôi cũng được!… Suốt đời ông vẫn thế, xưa nay ông vẫn thế, sao cũng được, chẳng bao giờ đòi hỏi điều gì, chẳng bao giờ có ý kiến riêng về bất cứ chuyện gì, mọi người cứ quyết định đi, ông theo… – cô con gái nhớ lại quả xưa nay bố mình vẫn vậy, cả nhà đều biết và đều quen vậy. Và hình như đấy chính là một trong những điều góp phần làm nên cái đức tính được coi là cực tốt, tốt nhất trong những người tốt của ông: chẳng có gì của riêng mình cả, một ý kiến riêng cho những nhu cầu nhỏ nhất của mình cũng không. Ngày trước cả nhà đều yên trí như vậy và thấy cũng bình thường thôi… Nhưng nay, sống ở một môi trường khác, quen với cách sống, cách nghĩ và hành xử hằng ngày khác, quen lúc nào họ cũng không ngờ, họ lại thấy lạ và rồi dần dần khó chịu: chính vì ông không bao giờ có bất cứ ý kiến riêng về điều gì, ngay cả cho chính ông, nên khiến cô con gái và cậu con rể muốn chăm sóc bố bỗng rất lúng túng. Ông không chọn lựa gì cả, cho chính ông, cho nên ngày nào, trong bất cứ việc nhỏ nhặt nào, họ cũng phải chọn lựa thay cho ông, luôn lo lắng không biết mình chọn lựa như thế này có vừa lòng ông không. Ngày nào họ cũng khó xử như vậy, khó xử vì những điều vụn vặt thôi, nhưng lại thường xuyên, lúc nào cũng phải tính, phải nghĩ, phải lo, lo mà chẳng biết mình lo vậy là dã được chưa. Tất nhiên họ có hơi phiền, ngày càng thấy phiền, họ thấy ông kỳ quá, những người như ông thật kỳ quá, sống như vậy thì lạ quá, sao lại có thể sống như vậy nhỉ, sống mà cứ như không có mình sống vậy, mà bao nhiêu người vẫn sống như thế đó, xưa nay…

Họ nghĩ, nhưng đều giữ gìn không hở miệng. Bố ở với mình được bao nhiêu ngày đâu, khiến ông cụ bận tâm làm gì. Họ không nói ra, nhưng hóa ra cậu con trai mới lên năm của họ lại nghe thấy và hiểu cả. Nó thuộc một lớp người khác, một kiểu người khác, một môi trường xã hội và giáo dục khác. Và nó không biết kìm chế. Nó rất lấy làm khó chịu. Cho đến một hôm, đột ngột thằng bé chỉ vào mặt ông, nói như quát lên: Chính ông cũng không tự biết ông muốn cái gì cả như vậy là ông làm phiền người ta lắm, ông có hiểu không? ông phải có ý kiến của ông chứ. Sao ông lại không bao giờ có ý kiến gì cả, vậy ai có ý kiến thay cho ông?!

Ông già sững người ra, còn bố mẹ thằng bé thì bịt mồm nó không kịp. Họ biết nó hỗn với ông đấy, nó còn chưa biết cách nói cho lễ độ, nhưng không thể mắng nó: bởi vì nó nói phải. Ông già suốt đời đã quen sống trong một xã hội không ai có ý kiến riêng của mình, không ai có quyền và rồi lâu dần cũng không có nhu cầu có ý kiến riêng của mình, từ việc nhỏ đếm việc lớn. Trong cái xã hội đó, không có ý kiến riêng gì cả được coi là rất đạo đức. Suốt đời ông không tin quyết định việc gì cả, mọi sự lớn nhỏ đều là do “người khác”, do một ai đó ở đâu đó mà ông đã giao phó cuộc đời mình, do cộng đồng, do tập thể quyết định thay cho ông. Ông tin tưởng tuyệt đối ở cộng đồng, ở tập thể. Và đó là đạo đức của ông, mà thậm chí ông có thể rất tự hào… Còn thằng bé thì khác: nó sinh ra và lớn lên trong một môi trường khác, ở đấy mỗi con người chỉ được coi là tốt khi trong mỗi việc lớn nhỏ đều có ý kiến riêng của mình, ý kiến đó có thể đúng hay sai, nhưng là ý kiến riêng, và dám chịu trách nhiệm về ý kiến đó. Không như thế thì thật kỳ quặc. Nó thuộc một thế hệ khác, một xã hội khác, một nền giáo dục khác, tuy nó chưa đi học, chưa đến trường, nhưng nền giáo dục đó thấm trong toàn xã hội và môi trường xã hội ấy như không khí để thở đã quy định cách ứng xử tự nhiên hằng ngày của nó. Một xã hội tạo nên từng con người độc lập. Từng con người tự do…

Sau cái cuộc bi kịch bé tẹo trong cái gia đình bé tẹo ấy ông già có hiểu ra không, tôi không được biết. Có thể ông chẳng bao giờ hiểu được. Thậm chí cái bi kịch nhỏ đó đối với ông lại quá lớn, quá lạ, đến nỗi nó ở ngoài tầm hiểu của ông. Ông ngơ ngác. Ông đã quá tốt theo cách của một thời để có thể hiểu được còn có một cách tốt khác hẳn, hoàn toàn ngược lại. Riêng tôi, tôi nghĩ lẩn thẩn: hay là những vấn đề của nền giáo dục chúng ta, mà bao nhiêu người đang rất lo lắng, có thể bắt đầu từ chính chỗ cái chỗ bé tẹo này đây chăng? Từ chỗ chúng ta định tạo ra những con người như thế nào, những con người suốt đời sẵn sàng giao phó cho ai đó suy nghĩ và quyết định mọi việc thay mình, hay những con người tự mình biết mình muốn gì và tự quyết định về mọi việc lớn nhỏ của mình. Chúng ta định dạy cho trẻ em từng em tự mình biết rõ mình muốn gì và dám tự quyết định lấy, hay dạy cho chúng biết vâng lời?

Hình như câu chuyện nhỏ trông chừng chẳng đâu vào đâu của cái gia đình nhỏ nọ có thể lại chẳng nhỏ chút nào.