Thiên nhiên điêu đứng

Vương Trí Nhàn

So với những đoạn đường Trường Sơn thì con đường chúng tôi đi hôm ấy từ Phú Thọ qua Thanh Sơn về Trung Hà không phải là xấu, và đất bụi chưa lấy gì làm nhiều. Nhưng đoạn đường trong liên tưởng là thuộc thời chiến tranh, còn hôm nay chúng tôi đi trên con đường thời bình.

Bởi vậy tôi nghĩ mình có quyền sốt sáy không yên, và cả một chút xót xa, khi nhìn những cây nhỏ lúp xúp bên đường. Lá nào lá nấy phủ đầy bụi, bụi dày đặc; nhiều chỗ một vài giọt mưa xuân để lại những vết loang lổ chỉ tố thêm cho người ta biết rằng không phải một mà là nhiều lớp bụi đã chồng lên nhau, để xóa đi màu xanh và làm cho không một cây nào còn là cây nữa.

Đến cả cây cối thiên nhiên cũng vì người mà phải sống vạ vật thế này ư? – nhiều sự liên tưởng dồn dập kéo đến trong tâm trí tôi. Có lúc nghĩ đến những hàng cây bị biến thành chỗ treo hàng hóa nhiều vỉa hè Hà Nội. Lại có lúc nghĩ đến một mẩu tin trên báo về giống tê giác. Trong khi ở Malaysia, tê giác đẻ rất đều kỳ thì ở một vườn quốc gia Việt Nam, giống này tịt đẻ, chỉ vì người ta vừa làm một con đường băng qua khu rừng nó sống.

Nhưng thiên nhiên không phải chỉ khổ lây với người.

Tệ hại hơn, trong nhiều trường hợp khác, nó còn là đối tượng bị chúng ta hủy hoại.

Ở nhiều nước trên thế giới, người ta cấm đánh bắt cá nhỏ, ai trót câu được mà không thả chúng về nguồn sẽ bị phạt nặng. Còn ở ta, ngay giữa Hà Nội, ngoài sông Hồng, người ta dùng cả điện ắc quy để diệt cá.

Trong Nam Hoa kinh, một triết gia nhiều chất hư vô là Trang Tử từng nêu ra một nhận xét, những cây gỗ vô dụng có cái lợi, không ai thích đẵn nó, vì thế nó sống mãi, trong khi những cây hữu dụng lại sớm bị nhăm nhe khai thác.

Cây cối ở ta đang làm chứng cho nhận xét đó của Trang Tử. Mấy năm trước đã có chuyện mấy cây sưa trong công viên nhà nước bị chặt bán. Còn đây là chuyện ở Quảng Bình dịp Tết Canh Dần vừa qua: hàng loạt cây bên các ngân hàng và các tiệm vàng bị tàn phá. Vì người ta tin rằng cây ở đó có mang theo lộc. Thật đúng là “cháy thành vạ lây”. Bỗng dưng tàn đời không có lý do nào cả.

Động vật hoang dã cũng nếm đủ nỗi khổ đúng theo kiểu mà Trang Tử đã cảnh báo. Chỉ vì thịt chúng ngon, lạ, các bộ phận của chúng là những vị thuốc chữa bệnh, mà các loài vật tuyệt vời đó bị săn đuổi đến cạn kiệt.

Riêng loài gấu ở ta lại còn rơi vào cái bi kịch thê thảm là bị hành hình dần dà theo nhịp điệu của cái cưa cùn. Bị nuôi trong hoàn cảnh giả tạo, hơn nữa luôn luôn bị rút mật một cách tàn bạo, không biết bao nhiêu chú gấu lực lưỡng biến thành một giống lờ đờ chậm chạp, kéo lê cuộc đời sống dở chết dở. Còn sống đó mà chúng không còn là mình, đến nỗi khi có người đến giải thoát thì không thể trở về rừng tìm lại cuộc sống bình thường được nữa.

Giở trang tin các mạng dễ dàng tìm thấy tin những con hổ ở Hà Nội bị bức tử.

Một người nước ngoài nhiều lần đi dọc từ Nam ra Bắc bảo rằng các bạn có thấy không, nhiều ngọn núi đá của các bạn ven đường một mạn từ Ninh Bình đến Hà Nam đang vẹt đi mòn đi, một số đang biến mất.

Rồi đến cả sông nữa. Chẳng phải là nhiều con sông của chúng ta đang bị xúc phạm, kể từ làm bẩn đến gây ô nhiễm, và trước khi được tuyên bố như Thị Vải (tên một bài báo trên SGTT 5-12-2009 Thị Vải là dòng sông đã chết) thì chúng đang trở nên thân tàn ma dại?!

Vâng, trước khi được chính thức khai tử, tôi đoán hẳn Thị Vải đã trải qua tình trạng sống lê lết trong bệnh tật. Sông bốc mùi dơ. Sắc nước ngả màu. Tôm cá trong lòng nổi lềnh bềnh vì hóa chất độc hại. Tức là một tình trạng sống dở chết dở của loài gấu mà trên đây tôi vừa nói. Và đến ngày hôm nay con sông chết vẫn nằm đó. Liệu đến bao giờ người ta mới quên nổi? Chắc không bao giờ!

Rồi với các thế hệ sau, thời của chúng ta sẽ được ghi nhận như là thời của những con bạc triệu đô, vụ PMU18… Và thời có những con sông chết như sông Thị Vải!

Hiếm khi thấy báo chí ta đưa tin về cuộc sống của một ngọn núi, một con sông. Bởi vậy cái tin Thị Vải đã chết dẫu sao cũng là một đặc ân. Chỉ lạ một nỗi là cái tin đau đớn đó không gây nên chút dư ba nào cả. Người ta chỉ nhắc đến nó khi đặt vấn đề bồi thường. Ngoài ra, chả thấy ai viết về chính cái chết của sông lấy ít dòng cảm động.

Tôi nói điều này từ góc độ một người làm công tác văn học.

Trong văn chương ta, sông là sức sống, sông là vẻ đẹp. “Đẹp đẽ thay tiếng hát của dòng sông”. Mở đầu tùy bút Sông Đà, Nguyễn Tuân từng đưa lên làm đề từ câu thơ đó của W.Whitman. “Đầu xuân gió mát tựa hè – Nở bung hoa gạo bốn bề trăng xuân – Sông là người đẹp khỏa thân – Non xanh mơn mởn bước gần bước xa…”. Huy Cận đã viết như thế trong một bài thơ làm hồi miền Bắc một thời thịnh trị trước chiến tranh.

Lúc này đây, những người còn nhớ đến Thị Vải và những con sông đang chết đang cần đến những lời thiết tha tương tự của các thi sĩ. Liệu có ai đáp lại không?

Theo Blog Vương Trí Nhàn

Gửi người Việt Nam hoang phí

Khương Duy

Mỗi mảnh đất của quê hương là một mảnh thịt xương người Việt đã ngã xuống để giữ gìn. Sao không bằng sức mình làm giàu trên mảnh đất ấy? Trao nó vào tay người ngoài không chỉ là hoang phí mà còn là một mối nguy hiển hiện. Đó là một sự lãng phí có tội với tương lai của đất nước.

“Tiết kiệm là quốc sách” – câu nói ấy được lặp đi lặp lại không biết bao lần trên sách vở, báo đài nhưng dường như tác dụng của nó thực sự chưa thấm vào đâu. Tôi chợt nghĩ, đó là do người Việt Nam chúng ta không những không có bản tính tiết kiệm mà ngược lại còn vô cùng hoang phí, nên khẩu hiệu ấy mới như “nước đổ lá khoai”.

Hãy bỏ qua những “tiểu tiết” như tắt điện, tắt điều hoà khi ra khỏi phòng hay những bữa tiệc xa hoa của không ít người Việt Nam khiến người nước ngoài cũng phải “nể” – những sự hoang phí mang tính cá nhân như thế chưa thấm vào đâu so với “trào lưu” hoang phí của cả một đất nước.

Bắt đầu từ chuyện những hồ nước Hà Nội bị san lấp và nhiều cánh đồng “bờ xôi ruộng mật” khắp các tỉnh thành đột nhiên biến thành sân golf hay được bê tông hoá thành khu công nghiệp. Đúng sai, phải trái thế nào người dân đã nói quá nhiều. Tôi chỉ xin nhấn mạnh rằng việc xẻ thịt ao hồ, đồng ruộng như thế là cực kỳ hoang phí.

Ảnh: e-city.vn

Đâu phải thành phố nào trên thế giới cũng được thiên nhiên ban tặng hệ thống hồ đẹp và dày đặc như Hà Nội. Vậy mà chúng ta đã biến bao hồ lớn hồ nhỏ của thủ đô thành ao tù chứa rác, thậm chí còn muốn bức tử chúng để xây cao ốc, chung cư. Và dù biết rằng phải mất mấy trăm năm, mấy ngàn năm những mảnh đất cằn khô mới thành ruộng nước hai mùa trồng lúa, chúng ta vẫn nhẫn tâm đổ bê tông cốt thép lên trên để “xây cho nhà cao cao mãi”. Hành vi đó có thể gọi là gì ngoài hai từ hoang phí?

Ai đi qua đường Láng sẽ nhìn thấy tấm biển đề “Di tích lịch sử văn hoá Chùa Nền”, tấm biển mờ mịt vì bụi, chỉ lối vào một ngôi chùa luôn đóng cửa im ỉm, sân chùa đã được trưng dụng làm kho hàng, bãi gửi xe, trước cổng chùa ngổn ngang xi măng, sắt thép. Có phải vì cả nước có quá nhiều những “di tích lịch sử văn hoá đã xếp hạng” nên chúng ta thành ra coi thường? Nếu cứ hoang phí các di tích như thế, đến lúc chúng ta sẽ phải xếp chúng vào “sách đỏ” vì nguy cơ tuyệt chủng.

Cả những “di sản văn hoá phi vật thể” cũng đâu được chúng ta trân trọng. Sự hoang phí đội lốt bảo tồn mới đáng sợ làm sao: chúng ta háo hức giới thiệu với thế giới về ca trù, quan họ; sung sướng nếu trong cuộc giao lưu, bạn bè nước ngoài nói vài câu tiếng Việt hay hát một điệu dân ca. Nhưng chính chúng ta đâu có biết trân trọng chúng? Bao nhiêu người Việt Nam ngồi xem hết một vở chèo hay một vở cải lương? Chúng ta đối xử một cách lạnh nhạt những thứ mà ngoài miệng xưng tụng là tinh hoa. Với sự hoang phí ấy, liệu bao nhiêu bằng  công nhận của UNESCO mới đủ để giúp những tài sản tinh thần của dân tộc ta thôi tuyệt chủng?

Tôi chợt lạnh người khi gần đây báo chí đang xôn xao về chuyện nhiều địa phương cho nước ngoài thuê rừng, thuê đất. Ảnh: cadn.com.vn

Một sự lãng phí đáng lo ngại hơn nữa – lãng phí nhân tài. Đất nước ta có truyền thống hiếu học và trọng người có học. Nhưng giữa trọng thị và biết cách sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nhân tài lại có khoảng cách khá xa. Đã có bao nhiêu người tu nghiệp trời Tây, mong được về làm việc trong cơ quan Nhà nước nhưng rồi đành ngán ngẩm khăn gói ra đi “làm thuê cho Tây”. Bao nhiêu vị có học hàm học vị vẫn hàng ngày đến cơ quan chỉ để nhâm nhi nước chè? Bao nhiêu luận văn, luận án phủ bụi trong thư viện?

Nhân tài không phải như ao hồ tự nhiên mà có, để có một nhân tài, người mẹ đã đổ mồ hôi trên cánh đồng, người cha đã sôi nước mắt trên những cuốc xe ôm, người con đã mờ mắt vì những đêm chong đèn thức trắng. Vậy mà nhân tài cuối cùng đi đâu? Chợt nhớ lời của người xưa: “Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”. Nhưng với Việt Nam, có lẽ không phải số nhân tài quá ít nên không đủ lấp đầy “nhà trống”, mà vì nó trống trải, lạnh lẽo, khó sống quá nên nhân tài vào cửa trước ra cửa sau. Ai đó đã đúc kết một câu nói chua chát nhưng không phải không có lý rằng người Việt ta “giàu thì ghét, nghèo thì khinh, thông minh thì không dám dùng.” Nếu vẫn giữ sự lãng phí nhân tài, liệu đến bao giờ chúng ta mới có thể hoá rồng, hoá hổ hay mãi mãi chỉ loay hoay trong cái bẫy thu nhập trung bình?

Tôi chợt lạnh người khi gần đây báo chí đang xôn xao về chuyện nhiều địa phương cho nước ngoài thuê rừng, thuê đất. Chao ôi, mỗi mảnh đất của quê hương là một mảnh thịt xương người Việt đã ngã xuống để giữ gìn. Sao không bằng sức mình làm giàu trên mảnh đất ấy? Trao nó vào tay người ngoài không chỉ là hoang phí mà còn là một mối nguy hiển hiện. Đó là một sự lãng phí có tội với tương lai của đất nước.

Nếu không chịu tỉnh mộng, vẫn tưởng người Việt chúng ta luôn biết tiết kiệm, biết trân trọng những thứ mình có, đến một ngày sực tỉnh muốn trân trọng, muốn tiết kiệm những thứ ấy e đã muộn rồi.

Theo TVN/VNN