Câu chuyện nước đóng chai

Nguồn: nhiethuyet.org

Tiếp theo bộ phim Câu chuyện đồ đạc (Story of Stuff) nói về thói quen tiêu dùng vô tội và vô vàn hệ lụy đến môi trường, bà Annie Leonard lại cho ra đời một bộ phim ngắn (10′) đi sâu vào một trong những hàng hóa rất thông dụng đối với tất cả chúng ta: nước đóng chai. Bộ phim cho chúng ta một cái nhìn toàn cảnh về nền sản xuất nước đóng chai công nghiệp hiện nay và những mối liên hệ đến các tài nguyên khác trên Trái Đất, kể cả dầu mỏ.

Xin mời các bạn cùng xem phim Câu chuyện nước đóng chai. Hy vọng rằng bạn sẽ có cái nhìn khác về nước đóng chai.

Bộ phim được cấp bản quyền tự dọ, bạn có thể tải về và chia sẻ với mọi người hay tổ chức những buổi chiếu phim cho cộng đồng xung quanh.

Địa chỉ download tại đây.

Advertisements

Xem người Đức giáo dục về môi trường cho trẻ nhỏ

Nguồn: kenh14.vn

Thay vì kể cho con những chuyện thần tiên, nhiều bậc cha mẹ ở Đức dành thời gian kể cho trẻ con những câu chuyện về thiên nhiên và cách bảo vệ môi trường. Cứ như thế, các phụ huynh nâng cao cho trẻ nhận thức về môi trường từ khi chúng còn rất nhỏ…

Vào tuần lễ cuối cùng của tháng 10, thủy triều ở Hamburg – cảng lớn nhất của nước Đức đang tăng lên, cao hơn nhiều so với mức của năm ngoái. Guido Neumann, giám đốc một công ty ở Hamburg, đã đưa cậu con trai lên 7 Leander tới bến cảng, họ đi dọc bờ đê để ngắm cảnh thủy triều lên.

Neumann cho biết: “Tôi nói với con trai lý do tại sao thủy triều lên nhanh như vậy. Nếu thủy triều tiếp tục dâng, chúng tôi phải xây những con đê cao hơn để bảo vệ nơi ở của mình.”

Khi đi dọc theo hai bờ đê, chú bé Leander nhìn thấy thủy triều dâng và chuyện trò với bố về tầm quan trọng của việc bảo vệ thiên nhiên.

Trẻ em ở Berlin (Đức) trong một buổi trồng cây. Ở Đức, trẻ em được giáo dục về môi trường từ khi còn nhỏ. (Ảnh: Plant for the Planet)
Gia đình anh Neumann là một ví dụ tiêu biểu về việc giáo dục cho trẻ nhỏ về môi trường ở nước Đức – nước có hệ thống phân loại rác rất chặt chẽ nhưng vô cùng thành công. Hệ thống tái chế “Green Dot” đã trở thành một trong những sáng kiến tái chế thành công nhất.

Điểm chủ chốt của hệ thống này là các nhà sản xuất và nhà bán lẻ phải trả phí “Green Dot” cho các sản phẩm: sản phẩm càng có nhiều bao bì đóng gói thì mức phí này càng cao. Nhờ quy định này mà dù mỗi năm nước Đức có 30 triệu tấn rác nhưng hệ thống phân loại đã giúp nước này phải sử dụng ít giấy hơn, ít thủy tinh và ít kim loại hơn. Do vậy mà họ phải tái chế ít rác hơn. Báo chí Đức dự đoán rằng nhờ hệ thống “Green Dot”, mỗi năm sẽ giảm được 1 triệu tấn rác.

Neumann có hai con trai là Leander và Joost (4 tuổi), anh bắt đầu dạy cho các con về môi trường khi chúng mới 2 tuổi. Lúc ấy, anh cũng dạy các con cách phân loại rác trong nhà.

Hiện nay chú bé Joost đã biết phân loại giấy từ đám rác thực phẩm và phân loại các loại rác chai lọ. Anh Neumann rất vui khi các con phân loại rác rất thành thục.

Phân loại rác chỉ là một khía cạnh trong việc giáo dục học định hướng môi trường mà Neumann dạy các con. Hàng ngày, anh đều kể cho các con nghe những câu chuyện về thiên nhiên. Từ khi hai con còn nhỏ, Neumann đã kể cho chúng nhiều chuyện về môi trường ví như việc bảo vệ gấu bắc cực, bảo vệ các núi băng trôi.

Đến khi hai con trai của Neumann vào học mẫu giáo, hàng tuần chúng đều dành một tiếng để nghe kể các câu chuyện về bảo vệ môi trường.

Hiện nay, hàng tuần, cậu con trai lớn đang học lớp 2 của Neumann đều cùng các bạn thảo luận về việc bảo vệ môi trường. Các em nói với nhau về cách bảo vệ cá voi, rồi cách làm sạch nguồn nước.

“Tôi là người luôn quan tâm đến môi trường nên tôi rất vui khi các con mình có thêm kiến thức về việc bảo vệ môi trường sống”, Neumann kết luận.

Câu chuyện đồ đạc

Nguồn: nhiethuyet.org

Từ khâu thác nguyên liệu cho đến tiêu thụ, sử dụng và cuối cùng là thải bỏ — mọi thứ chúng ta dùng đều ảnh hưởng nhất định đến cộng đồng nơi chúng ta đang sống và cả những nơi khác, nhưng phần lớn các tác động này lại ít được chú ý.

Câu Chuyện Đồ Đạc (Story of Stuff) là bộ phim tài liệu ngắn gọn (20′) trình bày nhanh mặt trái của xã hội sản xuất và chủ nghĩa tiêu dùng đang lan rộng ngày nay.

Câu Chuyện Đồ Đạc trình bày các mối quan hệ mật thiết của rất nhiều vấn đề môi trường và xã hội, qua đó kêu gọi chúng ta khẩn thiết phải xây dựng một thế giới bền vững hơn.

Hy vọng bộ phim dí dỏm này sẽ làm bạn cười một chút, suy nghĩ một chút và thay đổi cái nhìn của bạn về các đồ dùng xung quanh vĩnh viễn.

Trang web của phim.

Bản tiếng Việt của bộ phim là kết quả hợp tác của Nhiệt HuyếtTGC (Hà Nội) trong 2 tháng. Cố vấn David Brown. Điều phối bởi Thế Hệ Xanh.

Download bản tiếng Việt tại đây

Bộ phim được cấp bản quyền tự dọ, bạn có thể tải về và chia sẻ với mọi người hay tổ chức những buổi chiếu phim cho cộng đồng xung quanh.

Xem trực tuyến (tiếng Anh):

Môi trường và đói nghèo

Hiền Nguyễn

Theo VOVNEWS.VN

(VOV) – Chưa có một nghiên cứu nào đưa ra kết luận chính xác về sự liên quan giữa môi trường với đói nghèo. Song thực tế cho thấy, việc môi trường bị hủy hoại và đói nghèo dường như là cái vòng luẩn quẩn.

Nôm na là thế này. Người dân thiếu ăn thì khai thác triệt để tài nguyên thiên nhiên, bao gồm cả tài nguyên rừng, tài nguyên đất và tài nguyên nước. Hệ quả tất yếu khi các nguồn tài nguyên này dần cạn kiệt là thiên tai, bão lũ, hạn hán xảy ra. Và gánh chịu hậu quả không ai khác chính là người dân nghèo.

Theo các chuyên gia, trong 10 năm qua, mỗi năm Việt Nam chúng ta mất trắng 51.000 ha rừng, trong đó 20.000 ha là chuyển sang mục đích khác, phần lớn là rừng tự nhiên đầu nguồn. Mặc dù số rừng trồng hàng năm có tăng lên, nhưng độ che phủ và chất lượng rừng không thể được như rừng tự nhiên. Rừng chính là “máy điều hòa khí hậu” khổng lồ, giúp giảm nhẹ thiên tai, phòng chống bão lũ, hạn hán.

Các trận bão lũ trong vài năm trở lại đây có 1 nguyên nhân không thể phủ nhận là do nạn phá rừng đầu nguồn. Mỗi năm hàng chục nghìn người dân trở thành đối tượng nghèo và tái nghèo do thiên tai, bão lũ. Kế đến là hạn hán ở miền Bắc. Sông Hồng năm sau cạn nước hơn năm trước. Các hồ không còn nước để chứa nước là hậu quả của nạn phá rừng, ngăn sông. Hiện tượng El Nino, trái đất nóng lên, hệ quả của việc thiên nhiên bị tàn phá, đang làm đau đầu các chuyên gia và các quốc gia.

Theo Báo cáo tổng hợp của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC), nếu nhiệt độ trái đất tăng hơn 2°C, mực nước biển dâng 1m thì có thể làm tan biến những núi băng ở Himalaya vốn là nguồn cung cấp nước và lương thực cho hơn hai tỷ người, các rạn san hô ở Indonesia sẽ bị tan vỡ, các quốc đảo nhỏ như Fiji, Samoa và Vanuatu sẽ bị thiệt hại hàng năm lên tới 7% GDP, một số quốc gia có thể mất đi hoàn toàn.

Riêng Việt Nam, 22 triệu người phải di dời, khoảng 1/5 dân số sẽ mất nhà và 45% diện tích đất nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long bị phá hủy. Việt Nam sẽ là quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất của biến đổi khí hậu ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, do là quốc gia có bờ biển dài trong khu vực.

Có người đã từng ví von: Nếu anh bắn vào môi trường bằng súng lục, thì môi trường thiên nhiên sẽ tàn phá anh bằng đại bác. Xin đừng để con cháu chúng ta mai sau sẽ phải hứng chịu “loạt đại bác” đó!/.

Thiên nhiên điêu đứng

Vương Trí Nhàn

So với những đoạn đường Trường Sơn thì con đường chúng tôi đi hôm ấy từ Phú Thọ qua Thanh Sơn về Trung Hà không phải là xấu, và đất bụi chưa lấy gì làm nhiều. Nhưng đoạn đường trong liên tưởng là thuộc thời chiến tranh, còn hôm nay chúng tôi đi trên con đường thời bình.

Bởi vậy tôi nghĩ mình có quyền sốt sáy không yên, và cả một chút xót xa, khi nhìn những cây nhỏ lúp xúp bên đường. Lá nào lá nấy phủ đầy bụi, bụi dày đặc; nhiều chỗ một vài giọt mưa xuân để lại những vết loang lổ chỉ tố thêm cho người ta biết rằng không phải một mà là nhiều lớp bụi đã chồng lên nhau, để xóa đi màu xanh và làm cho không một cây nào còn là cây nữa.

Đến cả cây cối thiên nhiên cũng vì người mà phải sống vạ vật thế này ư? – nhiều sự liên tưởng dồn dập kéo đến trong tâm trí tôi. Có lúc nghĩ đến những hàng cây bị biến thành chỗ treo hàng hóa nhiều vỉa hè Hà Nội. Lại có lúc nghĩ đến một mẩu tin trên báo về giống tê giác. Trong khi ở Malaysia, tê giác đẻ rất đều kỳ thì ở một vườn quốc gia Việt Nam, giống này tịt đẻ, chỉ vì người ta vừa làm một con đường băng qua khu rừng nó sống.

Nhưng thiên nhiên không phải chỉ khổ lây với người.

Tệ hại hơn, trong nhiều trường hợp khác, nó còn là đối tượng bị chúng ta hủy hoại.

Ở nhiều nước trên thế giới, người ta cấm đánh bắt cá nhỏ, ai trót câu được mà không thả chúng về nguồn sẽ bị phạt nặng. Còn ở ta, ngay giữa Hà Nội, ngoài sông Hồng, người ta dùng cả điện ắc quy để diệt cá.

Trong Nam Hoa kinh, một triết gia nhiều chất hư vô là Trang Tử từng nêu ra một nhận xét, những cây gỗ vô dụng có cái lợi, không ai thích đẵn nó, vì thế nó sống mãi, trong khi những cây hữu dụng lại sớm bị nhăm nhe khai thác.

Cây cối ở ta đang làm chứng cho nhận xét đó của Trang Tử. Mấy năm trước đã có chuyện mấy cây sưa trong công viên nhà nước bị chặt bán. Còn đây là chuyện ở Quảng Bình dịp Tết Canh Dần vừa qua: hàng loạt cây bên các ngân hàng và các tiệm vàng bị tàn phá. Vì người ta tin rằng cây ở đó có mang theo lộc. Thật đúng là “cháy thành vạ lây”. Bỗng dưng tàn đời không có lý do nào cả.

Động vật hoang dã cũng nếm đủ nỗi khổ đúng theo kiểu mà Trang Tử đã cảnh báo. Chỉ vì thịt chúng ngon, lạ, các bộ phận của chúng là những vị thuốc chữa bệnh, mà các loài vật tuyệt vời đó bị săn đuổi đến cạn kiệt.

Riêng loài gấu ở ta lại còn rơi vào cái bi kịch thê thảm là bị hành hình dần dà theo nhịp điệu của cái cưa cùn. Bị nuôi trong hoàn cảnh giả tạo, hơn nữa luôn luôn bị rút mật một cách tàn bạo, không biết bao nhiêu chú gấu lực lưỡng biến thành một giống lờ đờ chậm chạp, kéo lê cuộc đời sống dở chết dở. Còn sống đó mà chúng không còn là mình, đến nỗi khi có người đến giải thoát thì không thể trở về rừng tìm lại cuộc sống bình thường được nữa.

Giở trang tin các mạng dễ dàng tìm thấy tin những con hổ ở Hà Nội bị bức tử.

Một người nước ngoài nhiều lần đi dọc từ Nam ra Bắc bảo rằng các bạn có thấy không, nhiều ngọn núi đá của các bạn ven đường một mạn từ Ninh Bình đến Hà Nam đang vẹt đi mòn đi, một số đang biến mất.

Rồi đến cả sông nữa. Chẳng phải là nhiều con sông của chúng ta đang bị xúc phạm, kể từ làm bẩn đến gây ô nhiễm, và trước khi được tuyên bố như Thị Vải (tên một bài báo trên SGTT 5-12-2009 Thị Vải là dòng sông đã chết) thì chúng đang trở nên thân tàn ma dại?!

Vâng, trước khi được chính thức khai tử, tôi đoán hẳn Thị Vải đã trải qua tình trạng sống lê lết trong bệnh tật. Sông bốc mùi dơ. Sắc nước ngả màu. Tôm cá trong lòng nổi lềnh bềnh vì hóa chất độc hại. Tức là một tình trạng sống dở chết dở của loài gấu mà trên đây tôi vừa nói. Và đến ngày hôm nay con sông chết vẫn nằm đó. Liệu đến bao giờ người ta mới quên nổi? Chắc không bao giờ!

Rồi với các thế hệ sau, thời của chúng ta sẽ được ghi nhận như là thời của những con bạc triệu đô, vụ PMU18… Và thời có những con sông chết như sông Thị Vải!

Hiếm khi thấy báo chí ta đưa tin về cuộc sống của một ngọn núi, một con sông. Bởi vậy cái tin Thị Vải đã chết dẫu sao cũng là một đặc ân. Chỉ lạ một nỗi là cái tin đau đớn đó không gây nên chút dư ba nào cả. Người ta chỉ nhắc đến nó khi đặt vấn đề bồi thường. Ngoài ra, chả thấy ai viết về chính cái chết của sông lấy ít dòng cảm động.

Tôi nói điều này từ góc độ một người làm công tác văn học.

Trong văn chương ta, sông là sức sống, sông là vẻ đẹp. “Đẹp đẽ thay tiếng hát của dòng sông”. Mở đầu tùy bút Sông Đà, Nguyễn Tuân từng đưa lên làm đề từ câu thơ đó của W.Whitman. “Đầu xuân gió mát tựa hè – Nở bung hoa gạo bốn bề trăng xuân – Sông là người đẹp khỏa thân – Non xanh mơn mởn bước gần bước xa…”. Huy Cận đã viết như thế trong một bài thơ làm hồi miền Bắc một thời thịnh trị trước chiến tranh.

Lúc này đây, những người còn nhớ đến Thị Vải và những con sông đang chết đang cần đến những lời thiết tha tương tự của các thi sĩ. Liệu có ai đáp lại không?

Theo Blog Vương Trí Nhàn

Gửi người Việt Nam hoang phí

Khương Duy

Mỗi mảnh đất của quê hương là một mảnh thịt xương người Việt đã ngã xuống để giữ gìn. Sao không bằng sức mình làm giàu trên mảnh đất ấy? Trao nó vào tay người ngoài không chỉ là hoang phí mà còn là một mối nguy hiển hiện. Đó là một sự lãng phí có tội với tương lai của đất nước.

“Tiết kiệm là quốc sách” – câu nói ấy được lặp đi lặp lại không biết bao lần trên sách vở, báo đài nhưng dường như tác dụng của nó thực sự chưa thấm vào đâu. Tôi chợt nghĩ, đó là do người Việt Nam chúng ta không những không có bản tính tiết kiệm mà ngược lại còn vô cùng hoang phí, nên khẩu hiệu ấy mới như “nước đổ lá khoai”.

Hãy bỏ qua những “tiểu tiết” như tắt điện, tắt điều hoà khi ra khỏi phòng hay những bữa tiệc xa hoa của không ít người Việt Nam khiến người nước ngoài cũng phải “nể” – những sự hoang phí mang tính cá nhân như thế chưa thấm vào đâu so với “trào lưu” hoang phí của cả một đất nước.

Bắt đầu từ chuyện những hồ nước Hà Nội bị san lấp và nhiều cánh đồng “bờ xôi ruộng mật” khắp các tỉnh thành đột nhiên biến thành sân golf hay được bê tông hoá thành khu công nghiệp. Đúng sai, phải trái thế nào người dân đã nói quá nhiều. Tôi chỉ xin nhấn mạnh rằng việc xẻ thịt ao hồ, đồng ruộng như thế là cực kỳ hoang phí.

Ảnh: e-city.vn

Đâu phải thành phố nào trên thế giới cũng được thiên nhiên ban tặng hệ thống hồ đẹp và dày đặc như Hà Nội. Vậy mà chúng ta đã biến bao hồ lớn hồ nhỏ của thủ đô thành ao tù chứa rác, thậm chí còn muốn bức tử chúng để xây cao ốc, chung cư. Và dù biết rằng phải mất mấy trăm năm, mấy ngàn năm những mảnh đất cằn khô mới thành ruộng nước hai mùa trồng lúa, chúng ta vẫn nhẫn tâm đổ bê tông cốt thép lên trên để “xây cho nhà cao cao mãi”. Hành vi đó có thể gọi là gì ngoài hai từ hoang phí?

Ai đi qua đường Láng sẽ nhìn thấy tấm biển đề “Di tích lịch sử văn hoá Chùa Nền”, tấm biển mờ mịt vì bụi, chỉ lối vào một ngôi chùa luôn đóng cửa im ỉm, sân chùa đã được trưng dụng làm kho hàng, bãi gửi xe, trước cổng chùa ngổn ngang xi măng, sắt thép. Có phải vì cả nước có quá nhiều những “di tích lịch sử văn hoá đã xếp hạng” nên chúng ta thành ra coi thường? Nếu cứ hoang phí các di tích như thế, đến lúc chúng ta sẽ phải xếp chúng vào “sách đỏ” vì nguy cơ tuyệt chủng.

Cả những “di sản văn hoá phi vật thể” cũng đâu được chúng ta trân trọng. Sự hoang phí đội lốt bảo tồn mới đáng sợ làm sao: chúng ta háo hức giới thiệu với thế giới về ca trù, quan họ; sung sướng nếu trong cuộc giao lưu, bạn bè nước ngoài nói vài câu tiếng Việt hay hát một điệu dân ca. Nhưng chính chúng ta đâu có biết trân trọng chúng? Bao nhiêu người Việt Nam ngồi xem hết một vở chèo hay một vở cải lương? Chúng ta đối xử một cách lạnh nhạt những thứ mà ngoài miệng xưng tụng là tinh hoa. Với sự hoang phí ấy, liệu bao nhiêu bằng  công nhận của UNESCO mới đủ để giúp những tài sản tinh thần của dân tộc ta thôi tuyệt chủng?

Tôi chợt lạnh người khi gần đây báo chí đang xôn xao về chuyện nhiều địa phương cho nước ngoài thuê rừng, thuê đất. Ảnh: cadn.com.vn

Một sự lãng phí đáng lo ngại hơn nữa – lãng phí nhân tài. Đất nước ta có truyền thống hiếu học và trọng người có học. Nhưng giữa trọng thị và biết cách sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nhân tài lại có khoảng cách khá xa. Đã có bao nhiêu người tu nghiệp trời Tây, mong được về làm việc trong cơ quan Nhà nước nhưng rồi đành ngán ngẩm khăn gói ra đi “làm thuê cho Tây”. Bao nhiêu vị có học hàm học vị vẫn hàng ngày đến cơ quan chỉ để nhâm nhi nước chè? Bao nhiêu luận văn, luận án phủ bụi trong thư viện?

Nhân tài không phải như ao hồ tự nhiên mà có, để có một nhân tài, người mẹ đã đổ mồ hôi trên cánh đồng, người cha đã sôi nước mắt trên những cuốc xe ôm, người con đã mờ mắt vì những đêm chong đèn thức trắng. Vậy mà nhân tài cuối cùng đi đâu? Chợt nhớ lời của người xưa: “Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”. Nhưng với Việt Nam, có lẽ không phải số nhân tài quá ít nên không đủ lấp đầy “nhà trống”, mà vì nó trống trải, lạnh lẽo, khó sống quá nên nhân tài vào cửa trước ra cửa sau. Ai đó đã đúc kết một câu nói chua chát nhưng không phải không có lý rằng người Việt ta “giàu thì ghét, nghèo thì khinh, thông minh thì không dám dùng.” Nếu vẫn giữ sự lãng phí nhân tài, liệu đến bao giờ chúng ta mới có thể hoá rồng, hoá hổ hay mãi mãi chỉ loay hoay trong cái bẫy thu nhập trung bình?

Tôi chợt lạnh người khi gần đây báo chí đang xôn xao về chuyện nhiều địa phương cho nước ngoài thuê rừng, thuê đất. Chao ôi, mỗi mảnh đất của quê hương là một mảnh thịt xương người Việt đã ngã xuống để giữ gìn. Sao không bằng sức mình làm giàu trên mảnh đất ấy? Trao nó vào tay người ngoài không chỉ là hoang phí mà còn là một mối nguy hiển hiện. Đó là một sự lãng phí có tội với tương lai của đất nước.

Nếu không chịu tỉnh mộng, vẫn tưởng người Việt chúng ta luôn biết tiết kiệm, biết trân trọng những thứ mình có, đến một ngày sực tỉnh muốn trân trọng, muốn tiết kiệm những thứ ấy e đã muộn rồi.

Theo TVN/VNN

Tàn sát thiên nhiên nhân danh hủ tục

Đào Tuấn

Viết về vua Lý Nhân Tông, Đại việt sử ký toàn thư chép lại những việc lớn trong đạo trị quốc của vị vua, được các sử gia sau này đánh giá là minh quân, là một quân vương mẫn tiệp, bậc thần võ sáng suốt: Năm Ất Mão, 1075, nhà vua mở khoa thi tam trường còn gọi là Minh kinh bác học  để chọn người tài làm quan. Năm Bính Thìn, lập Quốc Tử Giám- trường đại học đầu tiên ở Đại Việt. Trong 56 năm trị quốc, nhà vua đã hai lần xuống chiếu cấm mổ trâu: “Kẻ nào mổ trộm trâu thì phạt 80 trượng, đồ làm khao giáp, vợ xử 80 trượng, đồ làm tang thất phụ và bồi thường trâu; láng giềng biết mà không tố cáo, phạt 80 trượng”. Lý Nhân Tông là người đầu tiên khởi xướng việc đắp đê phòng lũ mà đoạn đê Cơ Xá còn đến ngày nay. Và, năm 1722, nhà vua xuống chiếu cấm dân chúng mùa xuân không được chặt cây. Dù còn nhiều ý kiến, rằng việc bảo vệ cây xanh có lẽ xuất phát từ sự hâm mộ Phật pháp của nhà vua, song dường như khi đưa chi tiết này vào sử sách, các sử gia đã nhận thấy Ngài là vị vua đầu tiên trong lịch sử Việt Nam nhận thức được ý nghĩa của việc bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái vì sự sống còn của con người, nhất là đối với cư dân làm nông nghiệp. Đây cũng là lần đầu tiên, việc bảo vệ môi trường thiên nhiên được đưa vào luật để trăm quan và dân chúng cùng phải tuân theo.

Việc bảo vệ thiên nhiên, dường như từ bấy giờ đã được đánh giá quan trọng không thua kém gì việc dạy dân làm nông, đánh cá, mở trường dạy học.

Theo phong tục cổ truyền, người Việt có tục bẻ lấy một cành lộc để mang về nhà lấy may, lấy phước. Đó là tục hái lộc. Cành lộc là một cành đa nhỏ hay cành đề , cành si … là những loại cây quanh năm tươi tốt và nẩy lộc. Tục hái lộc ở các nơi đền, chùa ngụ ý xin hưởng chút lộc của Thần, Phật nhân năm mới. Lộc xuân hái từ những cây thuộc bộ tứ linh đa, sung, xanh, si, theo quan niệm xưa, sẽ đem lại kết quả tốt đẹp.

Nhưng từ nhiều năm nay, việc hái lộc mà thực chất là bẻ lộc, là tàn sát thiên nhiên, đã nghiêm trọng đến mức cái ý nghĩa phong tục đã biến mất, nhường chỗ cho hai chữ hủ tục gây bức xúc trong xã hội.

Đêm 30 tết Canh Dần, người dân ở Đồng Hới, Quảng Bình đã bằng mọi giá “tàn phá” cây xanh trước các trụ sở ngân hàng, kho bạc dù dưới gốc cây có… công an đứng gác. Ở Hà Nội, các tuyến phố thuộc Quận Cầu Giấy, Tây Hồ trở nên xơ xác vì chuyện hái lộc sau đêm 30, đặc biệt tại các khu vực gần chùa chiền. Không chỉ đa, sân, si, người ta “hái” bất cứ cành gì, của bất cứ loại cây gì. Không chỉ bẻ bằng tay, người ta còn mang dao ra để chặt. Có người nói: Sự chặt phá và chiếc dao là biểu tượng của sự chết chóc, của sát khí, của sự tàn hại… khiến cho cây cối của mùa xuân vốn là biểu tượng của sự sống bị sứt sẹo, què cụt, vì một chữ “lộc”. Không lẽ cứ mỗi dịp tết đến xuân về, mỗi một cây xanh sẽ lại phải lăm lăm hai, ba công an để ngăn chặn chuyện tàn sát cây nhân danh hủ tục “hái lộc”?

Vào giao thừa năm Mậu Tý, tại Hồ Hoàn Kiếm- Hà Nội, hơn 30 nhân viên của Viettel đã triển khai thực hiện chương trình “Vui lộc đầu xuân” với 10 ngàn “Lộc may mắn” là những câu đối Tết có gắn búp bê cầu may cho người dân đi chơi giao thừa. Đây là một sáng kiến rất hay nhằm giảm bớt tình trạng bẻ cành, tàn phá cây cổ thụ xung quanh hồ Gươm. Rồi thì tại hầu hết các chùa, đều có bán các loại cây “lộc” đầu năm như mía, cây sống đời. Nhiều ngôi chùa nổi tiếng như Chùa Hà, thậm chí tiến hành phát lộc cho những người đi lễ đầu năm. Nhưng tất cả những việc làm đó không ngăn được sự tàn phá của hủ tục hái lộc.

Cách đây chưa lâu, khi những đoạn video clip quay cảnh những người đi Lễ hội Hoa Anh Đào tại Hà Nội xúm vào vặt trụi ba cây Anh Đào xinh đẹp được kỳ công mang từ đất nước mặt trời mọc sang khi lễ hội còn chưa bế mạc, những người tự trọng đã đỏ mặt vì xấu hổ.

Gần đây nhất, tại Lễ hội Hoa Hà Nội, ngay dưới chân tượng vua Lý Công Uẩn, người ta, với đủ cả nam phụ lão ấu đã tranh cướp, tàn phá trong nhốn nháo và hỗn loạn đến mức những người nước ngoài được chứng kiến đã phải lắc đầu mà than rằng: “Crazy”

Những cành cây xanh, những bông hoa được những người bẻ, người cướp coi là lộc để lấy may dù bẻ cây, cướp hoa không phải là một phong tục tốt đẹp, không phải là một nét đẹp văn hóa. Đó là điều đáng hổ thẹn. Bởi việc tàn sát thiên nhiên để lấy lộc cho riêng mình nhiều khi cũng dã man cũng như tục dâng hiến sinh linh từng mông muội một thời. Và, không thể biện minh cho hành vi thiếu văn hóa và tàn phá thiên nhiên bằng bất cứ lý do gì, dù đó là tục lệ.

Bây giờ mới bắt đầu tháng hành hương của năm du lịch 2010 với dày đặc các lễ hội, các sự kiện văn hóa. Liệu những ngôi chùa hàng trăm năm tuổi, những di tích mà mỗi cành cây ngọn cỏ đều in dấu của lịch sử sẽ ra sao nếu như thiếu vắng màu xanh chỉ vì nạn “hái lộc”? Có còn lễ hội, còn văn hóa, còn lịch sử nếu hủ tục này tiếp tục được duy trì và dung dưỡng bằng sự thiếu ý thức văn hóa nhân danh tục lệ?

Năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động Tết trồng cây trong toàn dân với lời dạy: “Việc này ít tốn kém mà lợi ích nhiều”. Đã có rất nhiều ý kiến cho rằng: “Hái lộc đầu xuân” là một trong những hủ tục không nên duy trì. Vì sao chúng ta không khai xuân mới bằng cách duy trì phong tục tốt đẹp là trồng cây thay cho sự tàn sát, chặt phá cây xanh mà từ đầu thiên niên kỷ thứ nhất vua Lý Nhân Tông đã coi đó là hành vi phá hoại được đưa vào luật để cấm triệt để?