Tết chặt cây và Tết sát sinh

Nguyễn Quang Thiều

Theo Tuanvietnam.net

Với thú chơi hoa đào rừng, đào núi ngày tết, chúng ta đang biến cái Tết trồng cây thành Tết chặt cây. Việc thi nhau chặt những cây đào rừng, đào núi một cách vô tội vạ vì lợi ích và thói hưởng thụ cá nhân đồng nghĩa với một lối sống thiếu giáo dục và phi văn hoá đang mỗi ngày một lan rộng.

Có một phong trào rất đáng trở thành một phong tục trong ngày Tết cổ truyền là phong trào trồng cây . Hồi tôi còn học tiểu học, cứ vào một ngày đầu năm là nhà trường tổ chức Tết trồng cây. Đó là một ngày hội thực sự. Mỗi học sinh trồng một cái cây. Rồi suốt những năm sau đó, mỗi học sinh luôn luôn chăm sóc cái cây của mình cho đến khi nó trở thành một cái cây vững trãi và toả bóng mát. Không chỉ nhà trường mà cả các thôn, xóm cũng tổ chức Tết trồng cây.

Nếu phong trào này được duy trì thì nó sẽ trở thành một phong tục đẹp. Nhưng ngược lại, nó không được tiếp tục. Và bây giờ, với thú chơi hoa đào rừng, đào núi ngày tết, chúng ta biến cái Tết trồng cây thành Tết chặt cây.

Với số lượng cành đào chuyển về riêng ở địa phận Hà Nội thì chắc chắn mỗi năm người ta ngốn hết một cánh rừng nhỏ.

Có thể nói, từ rằm tháng Chạp đến sát Tết, trên mọi nẻo đường từ các tỉnh phía Bắc về Hà Nội và các thành phố khác, chúng ta thấy một cuộc vận chuyển khổng lồ và có hệ thống những cành đào to, nhỏ với hầu hết các loại xe được huy động như xe tải, xe khách, xe du lịch, xe hơi 7 chỗ, 4 chỗ của các cơ quan Nhà nước.

Với số lượng cành đào chuyển về riêng ở địa phận Hà Nội thì chắc chắn mỗi năm người ta ngốn hết một cánh rừng nhỏ. Cứ liên tục như vậy trong nhiều năm, những cánh rừng đào sẽ không còn nữa. Trước hết, nó mất đi vẻ đẹp mà thiên nhiên đã ban tặng. Sau đó, nó làm cho con người có một thói quen xấu là tàn phá thiên nhiên vì lợi ích và những thú chơi của cá nhân mình.

Ngay ở giữa Hà Nội, những cây sưa với những mùa hoa tuyệt đẹp bị đốn hạ bằng mọi lý do của ngay cả những đơn vị quản lý cây xanh. Những hồ nước và những công viên tuyệt đẹp bị bức tử. Những di tích lịch sử và văn hoá bị các cá nhân và các tập đoàn phá vỡ cảnh quan hoặc  lấn chiếm bởi những công trình xây dựng của mình.

Việc thi nhau chặt những cây đào rừng, đào núi một cách vô tội vạ vì lợi ích và thói hưởng thụ cá nhân không ảnh hưởng gì đến an ninh quốc gia hay nền kinh tế nước nhà

Tôi cam đoan rằng: nếu chính quyền đồng ý thì sẽ có không ít tập đoàn hồ hởi và sẵn sàng phá chùa Trần Quốc hay Tháp Rùa ngay lập tức để xây khách sạn năm, bảy sao gì đấy. Nhận định này của tôi bắt nguồn từ những gì họ đã làm và những gì mà báo chí đã từng lên tiếng nhiều năm trở lại đây.

Việc thi nhau chặt những cây đào rừng, đào núi một cách vô tội vạ vì lợi ích và thói hưởng thụ cá nhân không ảnh hưởng gì đến an ninh quốc gia hay nền kinh tế nước nhà. Nhưng nó đồng nghĩa với một lối sống thiếu giáo dục và phi văn hoá đang mỗi ngày một lan rộng.

Bi hài thay, chúng ta có Tết chặt cây lại có Tết sát sinh. Nói về Tết sát sinh là tôi nói đến hành động phóng sinh trong ngày Tết ông Công, ông Táo. Tục phóng sinh (cá chép) là một tục đẹp và mang ý nghĩa nhân văn. Nhưng hãy nhìn cách phóng sinh của người dân mà xem. Ngay sau khi họ phóng sinh một con cá thì phóng sinh luôn rác thải xuống hồ, xuống sông. Ven bờ hồ và bờ sông là những túi nylon và đủ các loại rác thải khác nổi lềnh bềnh.

Số lượng những hồ nước và những dòng sông bị nhiễm độc mà chết ngày một tăng lên. Chiều 23 Tết vừa rồi, sau khi lễ ông Công, ông Táo xong, vợ tôi phải nhờ một đứa cháu mang con cá chép nhỏ đến tận một hồ nước còn khả dĩ sạch sẽ để phóng sinh cho dù nhà tôi chỉ cách sông Nhuệ mấy bước chân.

Cách đây hơn 10 năm, trong trường ca Nhân chứng của một cái chết, tôi đã nói đến cái chết của sông Nhuệ. Xác của dòng sông thối rữa và bốc mùi lên tận lưng trời. Bây giờ thì dòng sông ấy chết thật. Dòng nước trong xanh, thơ mộng với những ngọn gió sông trong lành thổi vào thành phố và các làng mạc ven sông của mấy chục năm trước giờ đây chỉ còn là một cái xác thối rữa.

Chúng ta mua những con cá để phóng sinh nhưng chúng ta lại phóng sinh chúng vào một môi trường chết do chính chúng ta gây ra một cách vô ý thức. Chính thế mà hành động phóng sinh của chúng ta trở nên bi hài và đầy thói đạo đức giả. Hành động phóng sinh thực sự có lương tâm chính là hành động bảo vệ môi trường. Cũng như hành động vì những người ngèo khổ một cách thực sự là chúng ta không tiêu xài hoang phí và không tham ô, tham nhũng tiền đóng thuế của người dân. Còn hành động mang cho người ngèo mấy gói mỳ ăn liền phần lớn vẫn là một trò diễn mà thôi.

Tết chỉ còn mấy ngày nữa, lẽ ra chẳng nên nói những chuyện buồn nản như thế này làm gì. Nhưng biết làm sao được. Cầu chúc mọi người lúc nào đó có một cái Tết vẫn có hoa đào đẹp để ngắm và vẫn thấy lòng thanh thản vì đã phóng sinh.

Làm sao thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình? – P/v Lê Đăng Doanh

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh



Ngân hàng Thế giới (WB) vừa chính thức công bố, VN trở thành nước có mức thu nhập trung bình. Tuy nhiên, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh lại có góc nhìn khác về kết quả này.


Thu nhập chủ yếu từ tài nguyên

Là chuyên gia kinh tế, ông đánh giá thế nào về kết quả mà WB vừa công bố?

Trước hết, có thể nói chỉ tiêu GDP bình quân đầu người, là một chỉ tiêu thô, tổng hợp và nó không nói gì được về sự bất bình đẳng về thu nhập trong xã hội. Có thể, một vài đại gia về bất động sản, ngân hàng, chứng khoán có thu nhập cả hàng trăm triệu USD/năm, trong khi đó những người nông dân nghèo, vẫn đang rất nghèo. Việc công bố về tỷ lệ hộ nghèo của VN (12,3%), nhưng ngay cả con số đó cũng chưa bao quát được hết, vì cái chuẩn hộ nghèo của chúng ta đã không kịp điều chỉnh theo trượt giá và chỉ tiêu lạm phát.

Có nghĩa là ông không đồng ý với WB?

Chưa hẳn thế. Theo tôi, việc VN từ một nước nghèo, có thu nhập thấp trở thành một nước có thu nhập trung bình đã là một kết quả rất đáng trân trọng thể hiện nỗ lực của VN trong vòng nhiều năm. Nhưng chúng ta cần phải nhìn lại và xem mức thu nhập đó có được dựa trên kết quả nào và trong tương lai, VN sẽ có thể vượt lên được cái “bẫy” có thu nhập trung bình hay không?

Cái “bẫy” ở đây là gì, thưa ông?

Người ta phân biệt cái “bẫy” thu nhập trung bình thành hai loại: Bẫy lương thấp, tức là những nước nghèo chỉ có làm gia công, lắp ráp, nên lương thấp. Còn công việc nghiên cứu khoa học, phát triển, triển khai, thiết kế thì không làm được. Việc phân phối, tiếp thị cũng không làm được. Để làm được các khâu đó đòi hỏi phải có trình độ cao.

Ngay thu nhập trung bình, người ta cũng chia ra làm 3 nhóm: Thu nhập trung bình thấp (1.000- 4.000 USD/người/năm). Trung bình trung bình (4.000- 8.000 USD/người/năm) và trung bình cao (tức 8.000-9.600- 9.800 USD/người/năm). Còn trên 10.000 USD/người/năm là nước có thu nhập cao và gia nhập nhóm OECD (các nước phát triển mới), mà gần đây nhất là Chile đã đạt được mức này.

Như ông vừa nói, cần phải xem mức thu nhập đạt được dựa trên kết quả nào, vậy VN đạt được thành tựu là nước có thu nhập trung bình dựa vào đâu?

Để đạt được thành tựu này, VN đã có một số thay đổi lớn: Chúng ta đã chuyển ra kinh tế thị trường, phát huy được tinh thần kinh doanh, sự năng động của những người dân và thu hút được đầu tư nước ngoài.

Tuy nhiên, điểm mấu chốt để đạt được sự tăng trưởng đó là chúng ta dựa vào khai thác tài nguyên và sử dụng lao động giá rẻ, tức làm gia công, lắp ráp. Thu nhập của VN hiện nay dựa vào tới hơn 70% từ tài nguyên, gồm có: Dầu thô, than đá, các khoáng sản, gỗ, gạo, thuỷ sản, cao su, cà phê. Thủy sản cũng chỉ mới là đông lạnh, chưa có chế biến. Điểm chúng ta phải tỉnh táo nhận ra, khi chúng ta đạt được mức thu nhập trung bình là trong bối cảnh, bất bình đẳng trong xã hội đã ở mức rất cao. Một số người buôn bất động sản, buôn bán chứng khoán rất giàu nhưng không tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội.

Như vậy, có thể nói thu nhập của chúng ta vẫn chủ yếu là “bán máu” (khai thác tài nguyên) và “ăn sổi” (bất động sản, chứng khoán)?

Chúng ta rất mừng khi một người nông dân áp dựng KHCN vào sản xuất các cây, con mới, tạo công ăn việc làm cho nhiều người. Nhưng chúng ta cũng hết sức lo ngại, khi có những kẻ khai thác, tàn phá tài nguyên như đạp đá, bốc cát bừa bãi. Tất cả những cái đó đều không nộp vào ngân sách và ít tạo ra công ăn việc làm. Chúng ta đạt được mức thu nhập đó, nhưng cái vốn quý lớn nhất của chúng ta, là con người, thì lại không đào tạo được họ để trở thành những người có trình độ cao.

Chúng ta vẫn chưa thể đào tạo được chuyên gia nào để hoạt động, làm việc ở nước ngoài bằng nền giáo dục của chúng ta. Hầu hết những người VN đang làm việc ở nước ngoài hiện nay đều được đào tạo ở nước ngoài. Rồi chúng ta cũng không có một chuyên gia tài chính nào được đào tạo ở trường VN mà đi “kiếm cơm” được ở nước ngoài.

Thu nhập của VN hiện nay dựa vào tới hơn 70% từ tài nguyên.
(Ảnh minh họa)

Cải cách toàn diện để vươn lên

Như ông nói ở trên, vấn đề thu nhập ở đây của chúng ta mới dựa vào “sức”, chứ chưa dựa vào “trí”. Để chuyển từ “sức” sang “trí”, chúng ta cần những thay đổi gì?

Chúng ta đạt được thành tựu này trong bối cảnh ô nhiễm môi trường đang diễn rất nghiêm trọng từ sông ngòi cho đến ao, hồ. Rồi nạn phá rừng ngày càng nghiêm trọng, phá rừng làm cho nước nguồn ngày càng cạn kiệt, lũ bão ngày càng gay gắt hơn, khô hạn nghiêm trọng hơn. Vì vậy, bên cạnh những thành tựu đáng trân trọng đó, chúng ta cũng phải thấy hết được những hạn chế, khuyết điểm, thiếu sót để khắc phục.

Ngay khi công bố kết quả này, WB cũng đã có rất nhiều lời khuyên đối với VN, nhất là về vấn đề cải cách để tiếp tục phát triển. Theo ông, VN cần phải cải cách những lĩnh vực nào?

Như tôi đã nói, chúng ta rất lo ngại cái “bẫy” thu nhập trung bình như các nước Đông Nam Á, từ Thái Lan đến Philippin, Malaysia, Indonesia…chỉ quanh quẩn ở mức thu nhập trung bình từ nhiều năm nay, tức chỉ dao động ở mức từ 1.500-5.000 USD/người/năm, không lên nổi. Chỉ có Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc vươn lên được.

Cũng xin lưu ý là, chúng ta đạt được thành tựu này trong bối cảnh nạn tham nhũng ngày càng trở nên trầm trọng. Bản thân chúng ta cũng lên án rất gay gắt tham nhũng, nào là “giặc nội xâm”, kẻ thù của đất nước nhưng trên thực tế việc hành động đạt được kết quả rất thấp.

Một khi muốn đạt được mức tăng trưởng mà giảm dần việc phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, chúng ta sẽ cần chuyển sang khai thác những nguồn lực nào?

Phải có sự cải cách rất rõ từ giáo dục, cho đến y tế, môi trường và phải có một quyết tâm chính trị như cách làm của Hàn Quốc, từ một nước rất nghèo phải đi XK lao động, XK tóc giả, nhưng chỉ trong một thời gian rất ngắn đã chuyển sang đóng tàu, XK ôtô, điện tử. Do đó, chúng ta cần chuyển từ việc tăng trưởng chiều rộng dựa vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ sang xây dựng các DN có thương hiệu, có năng lực cạnh tranh quốc tế, thế giới, phát triển KHCN, dựa vào đội ngũ lao động có trình độ, trí thức.

Phải giải quyết từng bước, có quyết tâm những sự bế tắc như tôi đã nói ở trên, trước hết là thay đổi bộ máy hành chính có năng lực hơn, tiếp tục chống tham nhũng, giải quyết ô nhiễm môi trường, thu nhập bất bình đẳng và các vấn đề xã hội.

Thực tế, thu nhập bình quân đầu người của chúng ta là như vậy, nhưng tiền lại chỉ tập trung vào một số ít người, còn đại đa số dân ta vẫn nghèo. Chúng ta có nên kiến nghị WB thay đổi công bố này?

Chúng ta không thể thay đổi được hoặc báo cáo với họ là chúng ta tái nghèo, mà phải vươn lên, phải tiến tới thành một nước phát triển, làm nghĩa vụ đi giúp đỡ các nước khác như cách làm ban đầu là chia sẻ và cử chuyên gia sang châu Phi hỗ trợ về SXNN. Có thể coi đây là bước ngoặt của sự thay đổi, chúng ta đang đứng giữa ngã 3 đường, nếu không vượt qua được, mình sẽ mãi mãi trở thành một nước “làng nhàng” quanh quẩn ở ngưỡng 1.000- 2.000 USD/người/năm, đấy là chưa kể đến các sự tác động mới như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường.

Bauxite Việt Nam

Xin đừng “bóp cổ” công viên

Mất không gian công cộng, mất công viên, chúng ta không chỉ mất những lá phổi xanh của mình mà còn mất ký ức, mất bản sắc…

Theo thống kê của Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam gần đây, diện tích cây xanh công cộng trên đầu người ở nội thành Hà Nội là 0,9 m2/người. Diện tích cây xanh này gồm cây xanh ở các vườn hoa, công viên, ở các dải phân cách đường và trên các vỉa hè đường.

Trong khi đó, tỷ lệ này trên thế giới rất cao: ở London, Berlin, New York, Moscow đều gần 30m2/người. Tỷ lệ trên ở TP.HCM còn thấp hơn, khoảng 0,7m2/người. Hà Nội đang đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, tỷ lệ này sẽ là 16m2/người. TP.HCM đặt chỉ tiêu “hiện thực” hơn: 4-5m2/người cho đến năm 2025. Tại sao ta dùng từ “hiện thực” ở đây?

Bởi vì các đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM sẽ ngày càng phình to vì sự di dân cơ học từ nông thôn ra thành thị. Nhà cửa, đường sá sẽ là ưu tiên hàng đầu rồi mới đến công viên cây xanh. Chưa nói đến chuyện đặt mục tiêu mở rộng diện tích cây xanh công cộng, chỉ cần lo giữ cho làm sao các công viên, vườn hoa hiện tại không bị “bóp cổ” bởi vô số các hoạt động thương mại, dịch vụ khác là tốt lắm rồi.

Tình trạng phổ biến hiện nay ở các vườn hoa là mặt bằng bị chiếm dụng để kinh doanh quán giải khát, quán nhậu với bàn ghế bày ra bít hết đường chạy của người tập thể dục. Nhiều mặt tiền công viên bị chiếm dụng để kinh doanh cây cảnh, mở siêu thị, làm bãi giữ xe. Còn khuôn viên bên trong công viên bị chiếm dụng để làm sân quần vợt, sân khấu ca nhạc, nhà hàng tiệc cưới. Như công viên Tao Đàn rộng 18ha ở TP.HCM chẳng hạn, công ty cây xanh chỉ quản lý có 9,8ha, phần còn lại là trụ sở các cơ quan, cửa hàng kinh doanh, dịch vụ ăn uống.

Công viên Thống Nhất là công viên lớn nhất ở Hà Nội với 27,8 ha diện tích mặt đất và 21ha mặt nước. Nhưng nếu so với các công viên trên thế giới thì chưa thấm vào đâu. Central Park ở New York rộng 341ha, quần thể Hyde Park và Kensington Gardens ở London rộng 253ha. Vậy mà Thống Nhất còn nhiều phen bị nhăm nhe “xẻ thịt”.

Năm 2007, dưới sức ép của dư luận, dự án Disneyland xây dựng trong khuôn viên công viên Thống Nhất đã bị hủy bỏ. Nhưng đến năm 2009, dự án khách sạn Novotel on the Park của liên doanh Tập đoàn Accor, Tập đoàn đầu tư SIH và Tổng công ty Du lịch Hà Nội lại chèn vào đó. Novotel on the Park đã gây lên sự bất bình mạnh mẽ trong nhân dân.

Central Park nằm ngay ở khu Manhattan giàu có nhất New York, thủ đô tài chính của thế giới. Nếu chính quyền New York mà cho “xẻ thịt” Central Park để làm các khách sạn thì họ đã kiếm được bộn tiền. Nhưng họ không bao giờ làm thế bởi công viên được mở năm 1859 này là trái tim và lá phổi của thành phố, mỗi năm đón tới 25 triệu lượt khách. Các tòa nhà cao ốc có thể được dựng lên rất nhiều nhưng không tòa nhà nào thay thế được tính biểu tượng cho New York của Central Park. Một khi công viên bị “xẻ thịt” thì không thể nào “đắp thịt” lại cho nó được nữa.

Một trong các yếu tố nhằm nâng cao diện tích cây xanh công cộng của một thành phố là nâng cao diện tích cây xanh ở các khu chung cư, đô thị mới. Song nhiều nhà đầu tư thiếu hợp tác trong lĩnh vực này. Quy chuẩn về mật độ xây dựng ở một khu đô thị mới được Bộ xây dựng ban hành là không được quá 40% nhưng tại nhiều khu đô thị, mật độ xây dựng lên tới 70%. Các nhà đầu tư thường xây các khu nhà “chật căng” trong khu đất của mình để tối đa hóa lợi nhuận. Ở các khu tập thể, chung cư cũ, diện tích cây xanh, sân chơi cũng đang “teo biến” dần để nhường chỗ cho nhà cửa, các hoạt động, kinh doanh.

Mọi người có vẻ như đang nỗ lực biến không gian công cộng thành không gian riêng của mình. Có một kiến trúc sư từng nói: “Không gian công cộng là nơi lưu giữ các ký ức của một cộng đồng”. Mất không gian công cộng, mất vườn hoa, mất công viên, chúng ta không chỉ mất những lá phổi xanh của mình mà còn mất ký ức, mất quá khứ, mất bản sắc…

* Tính theo đầu người, số lượng công viên trong thành phố chúng ta là ít, nhưng thực tế công viên lại đang bị “dư” vì chẳng có mấy người thích vào vì tình trạng bát nháo ở đây. Trước khi nghĩ đến việc xây thêm những công viên mới, tôi nghĩ chúng ta cần cải tổ những công viên hiện có (tình trạng hồ không có nước, cây xanh chết khô, hoa thì xơ xác) để chúng có thể thành những mảng xanh thực sự cho thành phố. Ngô Thanh Hải (32 tuổi, kỹ sư, Lam Sơn JOC)


* Tôi từng nghe tin về dự án xén đất ở công viên Thống Nhất (Hà Nội) để xây khu vui chơi, khách sạn. Hình như cũng đã tiến hành cắt xén được vài ngày rồi, nhưng vì cộng đồng kiến nghị mà kế hoạch này phải ngưng lại. Nghe mà thấy chán. Cứ cái kiểu chạy đua xây cao ốc, khách sạn, trung tâm thương mại như hiện nay, thành phố mình chẳng mấy chốc vắng bóng công viên. Nguyễn Phương Chi (24 tuổi, giảng viên đại học KHTN, TP.HCM)

Thành phố nhiều cây xanh nhất thế giới

* Sacramento – thành phố nổi tiếng của bang California (Mỹ) là nơi có số lượng cây xanh nhiều hơn bất kỳ thành phố nào khác trên thế giới (bao gồm cả Paris, Pháp).

* Nhờ có nhiều tán cây xanh bao phủ khắp nơi, ở Sacramento mùa hè rất mát mẻ, nhiệt độ cao nhất chỉ 36 độ C. Người ta cho rằng, bầu không khí luôn trong lành, dễ chịu dưới tán cây xanh cũng giúp các lái xe bình tĩnh hơn khi cầm vô-lăng.

* Hiện nay, thành phố Sacramento đang thực hiện kế hoạch 40 năm để tăng gấp đôi số lượng cây xanh bao phủ. Kế hoạch này do tổ chức phi lợi nhuận Sacramento tree foundation (Quỹ phát triển cây xanh Sacramento) thực hiện, kêu gọi những người dân tình nguyện tham gia trồng thêm cây xanh khắp các nẻo đường, con phố với mục tiêu là đạt số lượng 5 triệu cây xanh mới vào năm 2025.

* Nếu Sacramento thành công thì ngoài việc giúp không khí trong lành hơn, nguồn nước sạch hơn… còn giảm đi một nửa số lượng những ngày sương mù ở đó, một nhà khoa học của Nasa cho biết như vậy.

  • Đinh Hiệp (Theo Thanh Nien Online)

Cái giá phải trả cho hy sinh môi trường

Sau một thời kỳ phát triển, doanh nghiệp Việt Nam đã tiến những bước dài trong phát triển nội lực, họ đã đủ sức để đi qua giai đoạn khủng hoảng kinh tế và sẵn sàng nắm bắt những cơ hội mới trong năm 2010 khi thị trường hồi phục. Tuy nhiên, sự phát triển về quy mô và sự thâm dụng tài nguyên đã để lại gánh nặng môi trường, mà không dễ dàng giải quyết một sớm một chiều. Chạy theo tăng trưởng, bất chấp các thủ tục bảo vệ môi trường, xả nước bẩn ra sông rạch… đang là nguyên nhân chính bức tử các dòng sông, gây ô nhiễm trầm trọng môi trường sống hiện nay.

Đừng biến Việt Nam thành bãi rác công nghiệp

Núi nix phế thải của Hyundai – Vinashin ở thôn Mỹ Á, xã Ninh Thuỷ (tháng 8.2005). Ảnh: Lan Trang

Ông Lê Như Ái, giám đốc công ty nước uống tinh khiết Sapuwa, bức xúc: “Nhà nước cần mạnh tay hơn nữa về bảo vệ môi trường, không thể phát triển kinh tế bằng mọi giá được. Đừng quá hào hứng với những con số đầu tư, chạy theo chỉ số GDP, chạy theo thành tích, biến Việt Nam thành “bãi rác công nghiệp” của các nước tiên tiến”.

Theo ông Ái, công nghệ sản xuất lạc hậu ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Ai cũng biết thế, nhưng do luật còn có kẽ hở, nên không ít nhà đầu tư nước ngoài đã lợi dụng để đổ vào Việt Nam hàng loạt những dây chuyền công nghệ đã lỗi thời, với thiên hình vạn trạng những “chiêu” lừa, như dán lại nhãn mác để “qua mặt” quy định. Đó là chưa kể một số nhà đầu tư trong nước còn tiếp tay cho nhà đầu tư nước ngoài trong việc phá hoại môi trường. “Rất nhiều doanh nghiệp vi phạm luật bảo vệ môi trường, chỉ có bị lộ hay chưa bị lộ mà thôi”, ông Ái kết luận.

Giám đốc công ty Le & Associates và Motibee bà Phan Thị Mỹ Lệ cho rằng doanh nghiệp nước ngoài dù ý thức rất rõ về luật, nhưng nếu ta chủ quan, họ vẫn làm bậy như thường. Với cộng đồng doanh nghiệp trong nước, ý thức bảo vệ môi trường thường mới chỉ là đối phó. Đối phó để xuất khẩu được hàng, đối phó để qua mặt thanh tra…

“Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững phải liên kết chặt chẽ với nhau. Trong khi đó, hiện tại ý thức bảo vệ môi trường của doanh nhân Việt Nam còn thấp, đa số chạy theo lợi nhuận”, bà Lệ nói. Vẫn theo bà Lệ, sự kiện Vedan là một ví dụ cho thấy pháp luật còn quá lỏng lẻo. Hành vi gây ô nhiễm môi trường của Việt Thắng cũng phải xử lý thật nghiêm mới có tác dụng răn đe.

Ông Đoàn Đình Quốc, tổng giám đốc DQ corp, ưu tư: “Thực sự chúng ta đã và đang đánh đổi. Nhiều thành tựu của các công ty thu được từ sự hy sinh môi trường thiên nhiên và cuộc sống của người dân. Chân thành mà nói, chính cả bản thân tôi, đôi lúc vẫn chưa thực sự đặt việc bảo vệ môi trường đúng với yêu cầu xứng đáng của nó trong chiến lược phát triển kinh doanh nói chung”.

Xử phạt quá nhẹ, doanh nghiệp coi thường

Số lượng doanh nghiệp không chấp hành quy định bảo vệ môi trường đang tăng lên đến mức lo ngại. Trong khi đó, các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm lại gặp nhiều khó khăn.
Ông Phạm Xuân Trường, giám đốc Creations tâm sự: “Cha tôi qua đời vì bệnh ung thư, nên tôi thấm thía hơn ai hết nỗi đau khi nhìn các dòng sông đang chết. Thế nhưng vẫn có ít doanh nghiệp thực sự đầu tư nghiêm túc cho xử lý nước thải, đa số là lách luật để giảm chi phí. Nếu pháp luật có hình thức chế tài mạnh hơn, công minh hơn, dẫn đến phá sản doanh nghiệp, mới có thể ngăn ngừa được tình trạng gây ô nhiễm”. Ngoài ra, ông Trường cho rằng, cần có cơ chế để chống tham nhũng, có thưởng phạt xứng đáng cho người phát hiện và bảo vệ họ, vì bộ máy công quyền không thể kiểm soát hết được.

“Hầu hết mức xử phạt đều chưa hợp lý, tạo nên nhiều tiền lệ xấu, khiến doanh nghiệp coi thường, vi phạm lặp lại trở thành phổ biến”, ông Đoàn Đình Quốc phân tích. Ở nhiều quốc gia, đôi khi chỉ vì một vi phạm nhỏ, doanh nghiệp phải trả giá rất lớn, nhất là niềm tin của người tiêu dùng. Còn ở ta, rất nhiều doanh nghiệp gây hậu quả rất lớn với môi trường nhưng chỉ bị xử phạt kiểu hình thức, rồi đâu lại vào đấy.

Cái giá phải trả

Do đầu tư ban đầu chưa hợp quy chuẩn, nên khi vi phạm, nhiều doanh nghiệp lúng túng trong việc thay đổi kỹ thuật. Ông Trần Hữu Chinh, tổng giám đốc công ty Fideco, nói: “Để luật được thực thi, Nhà nước cần phải kiểm soát gắt gao những nhà đầu tư khu công nghiệp trong phương án báo cáo về phát triển và tác động môi trường trước khi phê chuẩn”.

Tại Fideco, theo ông Chinh, đã từng phải sửa lại hoàn toàn hệ thống xử lý nước thải của nhà máy đông lạnh Hải Việt ở Vũng Tàu khi bị cảnh báo. Cụ thể là ngưng mấy tháng sản xuất để xây thêm một bể chứa tập trung, xử lý hết chất độc hại trước khi xả ra ngoài. Đến nay, đầu ra của nước thải từ Hải Việt đã đạt chuẩn loại A.

“Các sở, ban ngành địa phương phải hết sức gương mẫu trong việc giám sát, kiểm tra, có biện pháp mạnh mẽ, rút giấy phép kinh doanh, chứ không để tình trạng vi phạm kéo dài”, ông Chinh đề nghị.

Là người gắn bó với ngành công nghiệp nặng, từng ngày nhìn thấy dòng sông Thị Vải đang hồi sinh khi Vedan ngưng xả chất độc hại, ông Đỗ Duy Thái, tổng giám đốc công ty Thép Việt đặt vấn đề: “Tại sao suốt mười năm qua Vedan qua mặt được pháp luật?”. Theo ông Thái, vấn đề lớn nhất cần thay đổi không phải tìm ra doanh nghiệp nào vi phạm, mà phải tìm ra ai đã đứng đằng sau, bảo kê cho việc đó. Tại Thép Việt, chúng tôi đã chọn công nghệ bảo vệ môi trường của châu Âu, nên nước được hoàn nguyên. “Ý thức về môi trường là nền tảng đúng để doanh nghiệp phát triển. Bản thân tôi đã nói với cả nhà là đừng bao giờ dùng bột ngọt Vedan, đó là cái giá lớn nhất mà doanh nghiệp phải trả”.

Để tránh tình trạng rất nhiều doanh nghiệp vi phạm luật, ông Lê Như Ái đề xuất: “Cần công khai những doanh nghiệp vi phạm luật qua các phương tiện truyền thông để người dân được biết và có thái độ cương quyết với sản phẩm đó”. Theo chuẩn mực quốc tế, để xuất khẩu sản phẩm gỗ sang nước ngoài, nhà sản xuất phải chứng minh nguồn nguyên liệu là gỗ trồng, chứ không phải gỗ khai thác tự nhiên. Thế nhưng có không ít doanh nghiệp vẫn “đánh lận con đen”.

“Tôi luôn ý thức biến 200 nhân viên của mình thành 200 gia đình tốt. 200 công dân tốt, có ý thức bảo vệ môi trường, vệ sinh cá nhân và phong cách sống đẹp. Khi mỗi công dân ý thức được bảo vệ môi trường, thì xã hội mới phát triển bền vững”, ông Ái nói.

  • Kim Yến – Ngân Hà (Theo Sài Gòn Tiếp Thị)

Ông Đặng Quốc Toản, tổng giám đốc công ty năng lượng dầu khí châu Á đưa ra giải pháp cụ thể để tiết kiệm năng lượng: “Chính Thủ tướng Nhật Koizumi đã kêu gọi và làm gương cho cả nước Nhật chỉ sử dụng điều hoà nhiệt độ khi trời quá nóng trên 250C. Thay bóng đèn sợi đốt bằng bóng đèn compact. Sử dụng hệ thống đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời, các thiết bị tiết kiệm năng lượng, điện gió ở quy mô lớn và quy mô nhỏ, cung cấp điện cục bộ cho từng khu vực dùng cho chiếu sáng, cho thông tin liên lạc, cho đèn đường, cho công viên, toà nhà, khách sạn, biệt thự… Đó là những hành động thiết thực cần làm ngay, là lương tâm và trách nhiệm của chúng ta đối với đất nước”.

Tại TP.HCM, trong số 935 doanh nghiệp đang hoạt động ở 12 khu công nghiệp và ba khu chế xuất, có đến 230 doanh nghiệp phát sinh nước thải với quy mô lớn nhưng chỉ có 81 doanh nghiệp có hệ thống xử lý nước thải. Theo thống kê của ban Quản lý các khu công nghiệp Việt Nam, tính đến hết năm 2008, cả nước có gần 200 khu công nghiệp (đang vận hành, xây dựng cơ bản lẫn đăng ký đầu tư).

Con số ấn tượng về sự gia tăng của các khu công nghiệp cũng đồng nghĩa với những lo ngại về ô nhiễm môi trường.


Nam Cực và những điều “tai nghe, mắt thấy”

Sáu thành viên Việt Nam tham dự đoàn thám hiểm Nam Cực đã trở về. Đoàn đã có những trải nghiệm và kế hoạch hành động thiết thực nhằm giúp hành tinh Trái đất không bị nóng ấm lên nữa do các loại khí thải từ công nghiệp phát ra.

Cô Hoàng Thị Minh Hồng, trưởng nhóm và là người Việt Nam đầu tiên đặt chân đến Nam Cực cách đây 12 năm, cũng trong đoàn thám hiểm do tổ chức 2041 tiến hành, cho biết những điểm khác biệt tại Nam Cực của hơn chục năm trước so với bây giờ:

“Trong chuyến đi Nam Cực năm 1997 tôi chỉ mang máy ảnh với phim thường, nhưng lần này mang theo máy ảnh kỹ thuật số và chụp được rất nhiều ảnh đẹp; chính mình cũng không hiểu tại sao lần này lại chụp được nhiều ảnh đẹp. Khi nói với ông trưởng đoàn Robert Swan, ông nói có nhiều ảnh đẹp là vì trên biển có nhiều tảng băng trôi. Lúc đó tôi mới chợt nhận ra là trên biển có nhiều băng trôi hơn ngày xưa.

Điều đó cho thấy băng ở Nam Cực đang bị tan ra do tình trạng trái đất nóng lên, điển hình ở Bán đảo Nam Cực, nơi mà trong 50 năm qua nhiệt độ đã tăng khoảng 3 độ C. Có tảng băng Larsen Bay bị vỡ hồi năm 2002 lớn bằng một tiểu bang ở bên Mỹ.

Một điểm khác nữa so với năm 97 là lượng khách du lịch. Hồi năm 1997, số khách du lịch đến Nam Cực rất ít nhưng lần này thì thấy đông. Chắc tác động của con người lên Nam Cực nay cũng lớn hơn so với 12 năm trước đây.”

Một thành viên khác của đoàn thám hiểm Nam Cực năm nay là cô Nguyễn Thị Phương Ngân, hiện là cán bộ giáo dục môi trường của tổ chức Quỹ Thiên nhiên Hoang dã tại Hà Nội cho biết những điều học được trong chuyến đi vừa qua:

“Tất cả những điều thấy trên Nam Cực đều giống như những điều tưởng tượng và những điều đọc được trên báo chí. Tuy nhiên, có một điểm là tôi tưởng Nam Cực lạnh lắm nhưng khi đến nơi thì không lạnh như mình tưởng, chỉ -2 đến -7 độ C mà thôi. Độ ẩm ở Nam Cực thấp, không lạnh buốt như ở Việt Nam, điều này khiến tôi ngạc nhiên nhất.

Tôi mới đến Nam Cực lần đầu tiên nên không có sự so sánh, thế nhưng những người phụ trách đi trong đoàn từng thám hiểm Nam Cực nhiều lần chỉ cho chúng tôi thấy những thay đổi so với 20 năm, 10 năm trước đây. Có những nơi đổ bộ lên bờ thì họ cho biết là cách đây 20 năm băng đến tận ngay chỗ chúng tôi đứng, nhưng nay thì băng cách đó đến chừng 500 mét.

Kế hoạch bảo vệ môi trường

Sau khi trở về, vào ngày 9 tháng 12  vừa qua, đoàn tổ chức họp báo để trình bày kinh nghiệm chuyến đi, cũng như đưa ra những kế hoạch nhằm giúp cộng đồng tại Việt Nam chung tay góp phần bảo vệ môi trường.

Rất nhiều người cho rằng việc bảo vệ môi trường là việc làm của chính phủ, của các tổ chức bảo vệ môi trường chứ không phải là việc của từng cá nhân. Trong khi đó thì bảo vệ môi trường là lối sống, thói quen của từng người. Cô Hoàng Thị Minh Hồng giới thiệu những chương trình hành động:

Chúng tôi muốn thực hiện một website về bảo vệ môi trường, trong đó ngoài những thông tin liên quan môi trường, những hoạt động đang diễn ra trên thế giới thì còn có những hướng dẫn cụ thể dưới dạng những tít rất nhỏ ví dụ như ‘Bạn có thể dùng son môi loại gì để bảo vệ môi trường’.

Nhóm có những chiến dịch làm việc với các siêu thị, các công ty, các cửa hàng bán lẻ để họ không dùng túi ny lông nữa. Chẳng hạn, tiến hành chiến dịch kêu gọi người dân giảm máy lạnh một độ C. Tất cả sẽ cụ thể như ‘Chiến dịch Giờ Trái đất’ là mỗi người tắt đi một ngọn đèn hay một thiết bị điện không cần thiết. Nói chung những việc làm đều xoay quanh những việc làm rất là nhỏ như thế.

Nguyễn Thị Phương Ngân thì đề cập đến những trở ngại cho công tác bảo vệ môi trường tại Việt Nam, nhất là cho các kế hoạch của nhóm cần phải vượt qua:

“Trở ngại lớn nhất là nhận thức của người dân mình. Có thể họ biết điều gì đang gây ra ảnh hưởng đến môi trường nhưng rồi do thói quen đã  ngấm sâu nên để hành động thay đổi thì rất là khó.

Nhà nước từng kêu gọi tiết kiệm điện bằng cách tắt đi những thiết bị không cần thiết, hay tắt đèn khi ra khỏi phòng, hay tắt ‘điều hòa’ ( máy lạnh) 30 phút trước khi ra khỏi phòng…

Chúng tôi tự nhủ với nhau để giúp thay đổi nhận thức cần kiên trì, đòi hỏi thời gian lâu dài. Chúng tôi hy vọng vào thế hệ tương lai, thế hệ trẻ sẽ có nhận thức tốt hơn.

Năm cá nhân chúng tôi hành động với nhận thức là bất cứ ai cũng có thể tạo ra thay đổi nếu mình cố gắng, tin tưởng. Chúng tôi có nhiệt huyết và tranh thủ sự ủng hộ của truyền thông. Còn để giải quyết vấn đề môi trường hay bất kỳ vấn đề nào đó thì cần sự chung sức của nhiều người và sự tham gia của các cơ quan chức năng.

Chuyến thám hiểm Nam cực vừa qua kéo dài từ ngày 18 đến 31 tháng 11, và đoàn Việt Nam sáu người về nước hồi ngày 4 tháng 12.

Chuyến đi do tổ chức có tên 2041 tổ chức để kỷ niệm 50 năm ngày ký kết Hiệp ước Quốc tế về Nam Cực. Tổ chức này do ông Robert Swan, người Anh, sáng lập với mục tiêu nhắc nhở thời điểm năm 2041 là năm mà Nghị định thư về Bảo vệ Môi trường theo Hiệp ước Nam Cực có thể bị bổ sung hay hiệu chỉnh. Tổ chức 2041 nêu rõ tiếp tục nỗ lực bảo vệ Hiệp ước Nam Cực, không để cho khu vực này bị khai thác gây ảnh hưởng đến môi trường trái đất.

  • Theo RFA

“Lá phổi xanh” thành “quả thận nhỏ”?

Quanh khu vực này, chỗ nào cũng thấy ngổn ngang gạch cát như một công trường xây dựng hoành tráng. “Lá phổi xanh” hồ Phùng Khoang sau này sẽ trở thành khu nhà ở và cao ốc chung cư, chỉ còn lại phần hồ cỏn con… hình quả thận.
Xây dựng vành đai xanh với điểm nhấn là các con sông, hệ thống hồ điều hòa là một trong những nội dung được nhấn mạnh trong bản báo cáo lần 3 về Quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.

Trong khi bản quy hoạch này đang tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện thì nhiều hồ tại Hà Nội vẫn đang bị xâm lấn, lấn chiếm trầm trọng, thậm chí người ta còn cho lấp hồ để làm dự án nhà ở…

“Lá phổi xanh” thành “quả thận nhỏ”?
Cùng với các hồ trong khu vực, hồ Phùng Khoang (còn gọi là hồ Trung Văn) đang trong cảnh bi thảm vì phần lớn diện tích hồ đang bị dự án khu đô thị Phùng Khoang “thôn tính”.

Cấp tập san lấp hồ Phùng Khoang để làm dự án nhà ở.

Theo số liệu của UBND xã Trung Văn (huyện Từ Liêm) diện tích hồ Phùng Khoang khi chưa bị thu về dự án là khoảng 16 ha mặt nước. Trước đây, toàn bộ diện tích này được giao cho hợp tác xã Thống Nhất thuộc thôn Phùng Khoang quản lý, làm hồ thả cá, hàng năm thu lợi một phần đóng góp vào hoạt động chung của thôn, một phần chia đều cho bà con xã viên thôn Phùng Khoang.

Đến đầu năm 2007, số phận của hồ Phùng Khoang “đã được định đoạt” bởi quyết định số 18/2007/QĐ – UBND của UBND thành phố HN về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết khu đô thị mới Phùng Khoang tỷ lệ 1/500.

Theo đó, phần lớn diện tích hồ sẽ bị lấp để xây dựng khu đô thị. Đến ngày 18/3/2009, UBND thành phố HN đã chính thức ra quyết định thu hồi gần 28 ha đất tại khu vực này (trong đó có toàn bộ diện tích hồ Phùng Khoang) để giao cho liên danh Tổng công ty đầu tư phát triển nhà HN và Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng đô thị (thuộc tập đoàn Nam Cường) thực hiện Dự án xây dựng khu đô thị mới Phùng Khoang…

Hồ Phùng Khoang những ngày này đang là một đại công trường san lấp quy mô lớn. Xưa kia, cả một khu hồ mặt nước mênh mông xanh biếc, không khí trong lành nay đang bị những đống gạch, đất, cát đổ ngổn ngang lấn vào giữa lòng hồ, bụi cát công trường bay mù mịt.

Xót xa khi thấy cả một khu hồ rộng đang bị lấp dần để làm dự án nhà ở

“Còn đâu cái hồ rộng để cho người dân được hưởng không khí trong lành nữa. Mai đây mặt hồ sẽ biến thành nhà ở và những tòa cao ốc chung cư”, bà Bạch Thị Loan, một người dân Phùng Khoang tỏ vẻ tiếc nuối cho số phận hồ Phùng Khoang.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, khu vực hồ Phùng Khoang không chỉ bị riêng dự án khu đô thị Phùng Khoang và đường Lê Văn Lương kéo dài lấp gọn, mà còn có sự đóng góp của một loạt dự án nhà ở khác của một số cơ quan Trung ương…

“Lá phổi xanh” hồ Phùng Khoang sau này sẽ trở thành khu nhà ở và cao ốc chung cư, chỉ còn lại phần hồ cỏn con... hình quả thận.

Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Quang Phú, Giám đốc công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng đô thị, một đơn vị trong liên danh được giao đất thực hiện Dự án xây dựng khu đô thị Phùng Khoang cho biết, hồ Phùng Khoang không mất hẳn khi thực xây dựng khu đô thị tại đây, mà chỉ bị thu nhỏ lại.

“Một phần hồ bị lấp để làm đường Lê Văn Lương kéo dài, làm nhà ở, phần còn lại chúng tôi xây dựng hồ điều hòa rộng 6,3 ha theo đúng quy hoạch mà UBND thành phố HN duyệt”, ông Phú nói.

Mặt nước “lá phổ xanh” hồ Phùng Khoang bị gạch đất san lấp không thương tiếc để làm dự án

Cũng theo giám đốc Phú, xung quanh 6,3 ha hồ điều hòa được giữ lại sẽ có hệ thống đường dạo, cây xanh, công viên và một khách sạn nhỏ, với tổng diện tích (tính cả hồ điều hòa) là khoảng 13 ha.

Mặc dù, việc có dự án về làng khiến cho bộ mặt thôn xóm, xã thay đổi không ít trong tương lai, nhưng nhiều người dân Phùng Khoang (xã Trung Văn, Từ Liêm) vẫn tỏ ra tiếc nuối, xót xa khi chứng kiến cả một khu hồ rộng mênh mông hàng chục ha đang bị san lấp.

Nhà bủa vây hồ
Sau nhiều năm bị chia năm xẻ bảy, một phần bị xẻ để làm đường, một phần bị xẻ làm bãi rác, một phần bị lấn chiếm… từ một hồ nước đẹp rộng hàng chục ha, diện tích còn lại của hồ Mễ Trì (huyện Từ Liêm) chỉ còn ngót nghét khoảng 5 ha.

Hiện hồ được giao cho tư nhân kè bờ, đắp đường ngăn làm nơi thả cá, nhưng giống như những hồ nước khác tại Hà Nội, nó vẫn không thoát khỏi cảnh bị nhà cửa, lều lán “nhảy dù” bủa vây, lấn chiếm tứ phía.

Khu đất ven hồ Mễ Trì (mạn đường Hồ Mễ Trì) bị xẻ làm những lô đất nhỏ cho thuê làm kho chứa hàng, than, phế liệu…

Phía Đông Nam hồ, giáp với đường Hồ Mễ Trì, một khoảng đất rộng hàng nghìn m2 được ngăn thành từng ô cho tư nhân dựng nhà, lán làm kho chứa hàng và vật liệu. Theo tìm hiểu của VietNamNet, cách đây chưa tới chục năm (khoảng đầu những năm 2000), bãi đất này vẫn là mặt nước hồ rộng mênh mông.

Tuy nhiên, cho đến nay, phần hồ giáp với con đường Hồ Mễ Trì đã bị san thành bình địa, lều lán, kho bãi mọc lên với tốc độ chóng mặt. Theo nhẩm tính của chúng tôi, chỉ riêng đoạn bờ hồ phía Đông Nam có tới gần chục lều, lán xâm chiếm làm kho bãi chứa phế liệu, chứa than, dịch vụ kinh doanh cây cảnh…

Bờ Tây Nam của hồ Mễ Trì là con đường đất nối đường Hồ Mễ Trì với đường Láng – Hòa Lạc, cũng chịu chung số phận bị xâm lấn bởi dãy lều, lán kéo dài hàng trăm mét. Theo quan sát của chúng tôi, đặc điểm chung của những dãy lều này là đều quay lưng ra hồ và giáp với lòng hồ, diện tích mỗi nhà lều chừng 40-60 m2.

Nhà, lán lều đua nhau bủa vây hồ Mễ Trì.

Kết cấu của chúng khá sơ sài, nền láng xi măng, xung quanh vây gỗ, liếp, mái lợp tấm xi măng… Có lều xây kiên cố hơn bằng hình thức ngoài quây liếp, bên trong xây tường gạch. Một số lều người ta sử dụng để nuôi gia súc, gia cầm… còn lại là những hộ gia đình đến ở, sinh sống với giường chiếu, bếp núc đủ cả giống như bất kỳ khu nhà “ổ chuột” nào của Hà Nội.

Trong những ngày có mặt tại khu vực này (trung tuần tháng 12-2009), chúng tôi chứng kiến hoạt động xây dựng, lấn chiếm hồ diễn ra khá sôi nổi. Khắp các ngôi nhà lán, lều và kho bãi ven hồ chỗ nào cũng thấy ngổn ngang gạch cát như một công trường xây dựng hoành tráng. Người ta xây tường, quây lán với tốc độ chớp nhoáng, chỉ trong một hai ngày những bức tường mới đã được dựng lên..,

Lấn chiếm hồ bằng cách dựng những ngôi nhà tạm lên

Theo bà H. một người bán quán nước tại khu vực hồ cho biết, hầu hết những dãy lều, lán quanh hồ này đều là người trong làng và một số người nơi khác đến “nhảy dù”, chiếm đất để ở từ vài ba năm nay. Gia đình của bà H. cũng là một trong số đó. Sau khi dựng lều, lán một phần họ làm chuồng trại chăn nuôi, một phần cho người lao động từ địa phương khác đến thuê ở với giá 5-700 nghìn/ tháng…

Những lô đất nhỏ cho thuê làm kho chứa hàng, than, phế liệu vốn là đất hồ

Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, ông Trần Trọng Hanh, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội cho rằng, việc hy sinh các hồ nước để thực hiện dự án phải được nghiên cứu, xem xét một cách cẩn thận.

Vì theo ông Hanh, ngoài vấn đề giúp cho không khí đô thị trong lành, các hồ nước tại Hà Nội còn đóng góp một phần quan trọng trong việc điều hòa lũ lụt, tránh cho HN lâm vào cảnh ngập lụt lịch sử như hồi tháng 11/2008.

  • Phú Nguyễn/VNN

Ký ức rừng

Tôi không biết những cánh rừng mất đi có đem lại ấm no, hay giá trị hơn hẳn nó cho quê hương hay không. Tôi chỉ biết rằng mất rừng, nhiều thế hệ người Việt Nam sau này không biết đến những giá trị của rừng nguyên sinh, khi rừng còn bao phủ nhiều vùng miền quê tôi.

Nhìn bé “Bằng Lăng” đứng khép nép với những chiếc lá đỏ hoe như đôi mắt đầy nước, sắp nhỏ xuống những giọt buồn bã côi cút, bên hè một ngôi nhà, lòng tôi rưng rưng thương cảm và bất chợt nỗi nhớ về một cánh rừng Bằng Lăng thắm đỏ, dâng tràn tâm tư. Có lẽ, ít người Việt Nam biết rằng: vào mùa này, cái thời điểm thu đang dùng dằng từ biệt và mùa đông vừa mới ngấp nghé nơi chân trời, thì trên những cánh rừng nhiệt đới miền Đông của nước ta, từng có vùng lá đỏ đẹp không thua kém bất kỳ cánh rừng nào. Trong đó, có cánh rừng bằng lăng?

Vào thập niên 70 của thế kỷ trước, (nói nghe có vẻ xa lắc, xa lơ nhưng thật ra thời gian mới chỉ bằng một cậu bé từ sinh ra và trở thành người đàn ông đúng nghĩa ở tuổi ba mươi). Vào một ngày của mùa này, tôi và vài người nữa đã lang thang ở cánh rừng phía Đông của dòng sông Đồng Nai. Chúng tôi hăm hở băng qua nhiều cánh rừng cốt để tìm một rừng tre, lồ ô nguyên sinh. Có lúc, chúng  tôi đi trên những lối mòn, có lúc, cứ nhìn mặt trời rồi nhắm hướng tây mà cắt. Hết một cánh rừng là mảng cỏ xanh non, màu xanh ngọt mướt, sức sống tràn đầy ngồn ngộn trên những khu đầm lầy. Hết đầm, tiếp giáp một cánh rừng khác. Bất ngờ, chúng tôi lọt vào một cánh rừng Bằng Lăng bạt ngàn. Chao ôi! Bừng bừng một  trời lá đỏ! Nhìn lên, không gian như cháy sáng bởi ngọn lửa từ sắc hừng  của lá thắm vừa dịu dàng, vừa nồng nàn, và cũng vô cùng miên man.

Chúng tôi rạo rực bước lang thang trong cánh rừng Bằng Lăng, chẳng còn ai chú ý đến đám vắt ngoe nguẩy trong lớp lá mục, có lúc, chúng cắn no nơi bắp chân rồi lăn cái mình đã  tròn căng, bóng lưỡng rớt xuống mặt lá chết. Bởi những cây bằng lăng thẳng vút, to hai người choàng tay không hết, hoặc nhỏ hơn một chút, thân sáng trắng, vươn những cánh tay khỏe khoắn như muốn chống đỡ bầu trời xanh. Bên trên cánh rừng, những khoảng sáng, hệt như các cánh cửa mở vào một lối thiên thai nào đó. Cánh rừng Bằng Lăng hùng tráng, rưng rưng những cánh lá đỏ chấp chới đã hớp hồn chúng tôi.

Thật lạ, bên dưới tán rừng Bằng Lăng rất thoáng, chỉ một lớp cỏ mọc thấp, chứ không chằng chịt cây non như loại rừng khác. Vì vậy, những  cơn gió bay qua, lớp lớp lá đỏ chòng chành rời cành bay lảo đảo, rồi nhẹ nhàng đậu thiêm thiếp trên mặt đất. Những chiếc lá thu hết tàn lực, tự cháy lên sự khát khao được đẹp lần cuối cùng, trước khi hóa kiếp.

Về sau, tôi còn biết rằng, trong số những cây Bằng Lăng quí giá của cánh rừng nọ, có những thân là Bằng Lăng bông lau, gỗ trắng, vân hồng, thịt mịn đẹp tuyệt vời! Ngày nay, những miếng gỗ Bằng Lăng bông lau có đường kính từ nửa mét trở lên, chỉ có mặt trong những bộ đồ gỗ ở những gia đình lắm tiền, nhiều của. Nhưng lúc đó, tất cả chúng tôi chỉ lo ngắm lá đỏ đang cháy rực trên bầu trời, lòng trào dâng một niềm tự hào khôn tả về quê hương, đất nước.

Vào những năm đầu thập niên 80, tôi thường xuyên qua lại trên con đường mòn từ ngã ba Lăng Minh qua Sông Rây, quẹo về Bàu Lâm, xuôi xuống Hòa Bình, Bà Tô, gần đến Bà Rịa – Vũng Tàu (ngày nay, con đường này có đoạn trở thành đường tỉnh lộ, đường quốc lộ, đẹp nhất nước). Nhưng khi đó, đoạn từ Sông Rây đến Bàu Lâm toàn đi qua rừng già.

Con đường như một sợi chỉ mỏng manh đỏ ngầu, bò len lỏi giữa những cánh rừng nguyên sinh trùng trùng. Nhưng những cánh rừng ấy long lở từng giờ. Máy ủi, máy cưa, máy cày gầm rú ầm ầm trong cơn khát khao đốt phá. Khói đốt rừng bốc lên nghi ngút mù trời. Những cây gỗ quí như Lim, Cẩm lai, Gõ đỏ, Bằng Lăng, Trai… nếu may mắn thì theo xe buôn gỗ đi muôn nơi, nhưng không ít bị vứt vào ngọn lửa đốt  rừng hối hả. Còn những gốc mai hàng trăm năm tuổi thì gần như chẳng ai đoái hoài gì đến, chúng ngậm ngùi thành tro trong lặng lẽ cùng trăm ngàn loài cây rừng khác.

Người ta đốt, người ta cày xới, người ta đốn hạ những cánh rừng nguyên sinh hấp tấp, hối hả, mau mau. Những cánh rừng thiên nhiên mất hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm kiến tạo, chỉ trong nháy mắt cuộc đời đã bay hơi như chưa từng hiện diện bao giờ. Mỗi ngày, hàng trăm héc ta rừng đổ nghiêng, bật gốc rồi cháy rụi. Sức tàn phá của con người so với bão táp của trời đất, thì kinh khủng hơn gấp ngàn lần. Tốc độ đó đã làm cho muôn thú trong rừng không lối thoát, phần lớn, chúng bị dồn vào con đường tuyệt chủng vì mất nhà ở, mất nơi kiếm sống, như bầy voi chẳng hạn.

Tại những cánh rừng huyện Xuyên Mộc, vào những năm 1983 – 1984, từng có voi sa vào hố bom ngay trên đất mới phá rừng. Ban ngày, hàng trăm người tụ tập đến gần để xem con voi mắc nạn, có người còn mang đến hàng vác mía từ nông trường Sông Rây cho chúng ăn, mặc dù bầy voi lẩn quẩn đâu đó vì không nỡ bỏ con voi kém may mắn, chúng cất tiếng hú gọi đầy phẫn uất và bi thương.

Cuối cùng, người ta cũng tìm được cách giúp con voi lên khỏi hố bom. Cả bầy voi đã phủ phục bái tạ trước khi kéo nhau bỏ đi. Với tôi, đàn voi đó có lẽ chính là đàn voi cuối cùng về sau đã tụ tập về khu rừng núi Ông – Tánh Linh – Bình Thuận, bởi vì cả một vùng miền tiếp giáp từ Bình Châu, Xuyên Mộc, Xuân Lộc, Hàm Tân và Tánh Linh chạy liền đến dưới chân những dãy Trường Sơn hùng vĩ ngăn chia Bình Thuận với Tây Nguyên ở cuối phía Nam. Bây giờ, rừng đã co cụm lên núi cao, và ngay cả nhiều đồi núi trên Trường Sơn ở khu vực này cũng đã trọc lóc, từ dưới nhìn lên, núi cứ đỏ loang như máu chảy, chứ không xanh mịt mùng như mấy chục năm trước.

Những cánh rừng toàn bộ của khu vực trên giờ đã là những nông trường, những công ty cao su, trong số đó phần lớn đã cổ phần hóa tư nhân, bởi vì nhiều đơn vị quốc doanh từng làm ăn thua lỗ.

Tôi có nhiều chuyến lang thang bên dưới những cánh rừng cao su, trong đó có chuyến đi tìm một huyền thoại đã chết, huyền thoại về một con voi trắng. Trong nhân gian nhiều vùng ở Tây Nguyên và miền Đông từng đồn thổi rằng, vua Bảo Đại sau khi thoái vị về sống ở Đà Lạt từng nuôi một con voi trắng. Khi gia đình ông rời Việt Nam đã thả con voi trắng về rừng và trên cổ nó có mang vật kỷ niệm đó là một sợi xích bằng vàng?

Chuyện hư thực ra sao không biết, nhưng người dân sống ở gần đồi Bảo Đại, ngọn đồi này nằm ở phía tây, thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, nơi tiếp giáp với những cánh rừng của ba tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Thuận. Ngọn đồi trước đó được đặt tên là đồi Con Sò, những năm 1952 – 1953, quốc trưởng Bảo Đại đến đây săn bắn và nghỉ lại trên đỉnh đồi, từ đó, người dân vùng này gọi tên đồi thành đồi Bảo Đại cho đến ngày nay. Khi rừng còn vây bọc bình nguyên chung quanh ngọn đồi, nhiều người dân nơi này chỉ vào những  dấu chân voi về làng, rồi thì thầm rằng dấu chân ấy chính là của “ngài voi trắng”.

Huyền thoại con voi trắng từng khoác lên mình những cánh rừng nhiệt đới miền Đông, rừng giáp ranh Tây Nguyên một vẻ đẹp lãng mạn, bí ẩn. Nhưng nay rừng chỉ còn trong ký ức, con voi trắng cũng chẳng có nơi nào trú ẩn, câu chuyện chết trong nối tiếc của bao người.

Tôi không phải là một nhà chiến lược, càng không am hiểu về kinh tế, chẳng biết gì về khoa học. Những cánh rừng mất đi có đem lại ấm no, hay giá trị hơn hẳn nó cho quê hương hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết rằng mất rừng, nhiều thế hệ người Việt Nam sau này không biết đến những giá trị của rừng nguyên sinh, khi rừng còn bao phủ nhiều vùng miền quê tôi.

  • Minh Nhựt ( Theo tuanvietnam.net)