Tại sao phố cổ Hà Nội bị từ chối công nhận là di sản văn hóa thế giới ?

Theo BauxiteVN

Bài phỏng vấn bà Irina Bokova đăng trên blog “http://banmaixanhblog.tk” dù là thực hay giả tưởng cũng phản ảnh rất đúng thực trạng chỉnh trang Thủ đô Hà Nội để chuẩn bị lễ hội Nghìn năm Thăng Long mà chúng ta đang gấp rút tiến hành lâu nay, tiêu tốn hàng chục tỷ đồng tiền thuế của dân.

Nó làm tôi lo ngại và liên tưởng đến kỷ niệm cười ra nước mắt sau đây!

Hồi tôi còn sống ở Paris vào thập niên 1975-80, ăn mặc xập xệ một cách bình thường theo lề thói tự do sinh hoạt của cộng đồng giới Đại học.
Có một nữ trí thức Hà Nội khá xinh sang làm thực tập. Tháng đầu mỗi khi phải đi ăn restaurant trong campus cùng với bà ta, nhiều khi tôi ngượng chín người vì nhiều đồng nghiệp nhìn theo “mốt đầm à la HN“. Bà ta lại càng “se faire remarquer” (tự làm cho người ta chú ý) tợn và nói với tôi:

Em phải bỏ nhiều tiền tìm những tiệm “mode thời thượng ở HN” để may đấy !

Một tháng sau tôi thấy trên thân thể bà ta biến mất những “mode thời thượng” và ngạc nghiên.

Bà ta cười xòa trả lời:
– Bây giờ em đã biết “mình chả giống ai !”.
– Chị tiến bộ cực nhanh!

“Ta có cách làm của ta”, câu nói đó của một vị lãnh đạo đâu từ nhiều thập niên trước vốn là cách nghĩ tiểu nông của kẻ vừa thắng Mỹ nên đâm ra hoang tưởng, nhưng không hề tư vị, nay thì hình như đã được thế hệ lãnh đạo mới tiếp nhận theo một quan điểm thực dụng khác hẳn. Tuân theo sự “chỉ đạo” của túi tiền mà họ có thể vay được và thu lãi được, mặc cho bộ mặt Hà Nội cổ truyền cần gìn giữ ra sao, họ có thể đập phá đi tất cả, nhào nặn lại tất cả, để có một Hà Nội theo con mắt “thời trang” của họ. Đúng là “Mốt đầm à la HN” đấy.

GSTS Nguyễn Thu

Bà Irina Bokova

15h paris tức khoảng 22h Hà Nội ngày 12-4-2010, tại Paris, Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên hiệp quốc (Unesco) đã chính thức từ chối công nhận Phố cổ Hà Nội là di sản văn hóa thế giới. Trong thông cáo chính thức, Tổng Giám đốc UNESCO, bà Irina Bokova cho biết: “Unesco đã có những điều tra độc lập và không tìm thấy bất cứ bằng chứng nào chứng tỏ Hà Nội có những di sản như hồ sơ mà họ đã đệ trình”. Quyết định của Unesco đã giáng mạnh vào tham vọng của Hà Nội khi thành phố này chuẩn bị mừng đại lễ 1000 năm tuổi với sự tham gia của chính Unesco: Chỉ riêng trong năm 2009, Unesco đã công nhận không gian văn hóa Quan họ Bắc Ninh và Ca trù là di sản văn hóa phi vật thể. Unesco cũng đã đồng ý tham gia đại lễ hội nhân sự kiện 1000 năm Thăng Long, tuy nhiên, những cuộc điều tra và khảo sát và độc lập của Unesco cho thấy riêng đối với Khu phố cổ Hà Nội, không có bất cứ bằng chứng gì chứng tỏ khu phố này đã từng tồn tại hàng trăm năm nay. Bà Bokova trả lời phỏng vấn PV TTXVH tại Paris.

Tháp Nước Hàng Đậu

Tháp Nước Hàng Đậu sau khi cải tạo


PV
: Nhưng thưa bà, những khu phố cổ của Hà Nội hiện vẫn đang tồn tại?!

Bà Bokova: Với tư cách đứng đầu cơ quan Unesco, chính tôi đã trực tiếp tới Hà Nội. Hà Nội chỉ còn lại những nhà vệ sinh thật cổ, và cũng “thật khổ”. Kiến trúc những ngôi nhà tại các tuyến phố Hàng Than, Hàng Lược, Hàng Giấy, Hàng Đậu…có vẻ là kiến trúc hộp diêm, nhưng thực chất nó đã được làm mới. Không có một công trình cổ nào lại có màu hồng hoặc màu xanh.

PV: Thưa bà, nhân dịp đại lễ 1000 năm, Hà Nội đang tu bổ lại các di tích cổ để chúng sạch sẽ và đẹp hơn mà thôi

Bà Bokova: Tôi hiểu những điều các bạn đang làm, nhưng điều đó thực chất lại đang giết chết yếu tố thời gian của di tích. Trên thế giới hiện có 2 cách bảo tồn: Thứ nhất, người ta giữ nguyên trạng di tích, cố gắng tạo cho chúng một môi trường tốt nhất chứ không động chạm tới di tích. Thứ hai, là cách mà các bạn đang làm, tu bổ, thay thế gần như là một sự làm mới. Thật khó có thể chấp nhận một ngôi chùa với toàn gạch men được giới thiệu đã 400-500 năm tuổi, một ngôi nhà trăm tuổi có màu vàng nhạt và mới kính coong; Hoặc một tháp nước có màu xanh da trời.

PV: Nhưng không trùng tu thì di tích sẽ biến thành phế tích, không sơn sửa lại thì di tích trông sẽ rất bẩn thỉu.

Bà Bokova: Nhưng nếu các bạn, gọi theo cách của người Việt là “vôi ve” khu phố cổ, thì sẽ phải đóng hộp quần tây-cà vạt cho vua Lý Thái Tổ?

PV: Thế còn Tháp Rùa, thưa bà, nom nó vẫn cổ kính đấy chứ?

Bà Bokova
: Vâng. Đã có nhiều ý kiến nói Tháp Rùa thực chất chỉ là một ngôi mộ. Unesco coi trọng tất cả các di tích cổ, chứ không phân biệt tính chất của di tích. Ngay tại quê hương Bulgari của tôi 2 di tích được Unesco công nhận là di sản văn hóa thế giới đều là các công trình lăng mộ. Quần thể các công trình tôn giáo được đục trong đá tại làng Ivanovo và Mộ người Thrace ở Kazanlak. Riêng đối với Mộ người Thrace, tôi có thể tự hào nói rằng trong đó vẫn còn giữ được những bức tranh cổ được coi là những tuyệt tác nghệ thuật của Bulgari từ thời Hy Lạp cổ và được bảo quản tốt đến ngày nay. Chúng tôi hoàn toàn không hề vôi ve hay trùng tu kiểu làm mới như các bạn mà vẫn có thể giữ gìn được. Xin lưu ý đây là ngôi mộ được xây từ thế kỷ thứ 4 trước công nguyên. Còn Tháp Rùa của các bạn đã được “vôi ve” từ cách đây 20 năm, cùng đợt với một ngôi chùa khác là Trấn Quốc.

PV: Xin nhắc lại câu hỏi, thưa bà, Tháp Rùa vẫn giữ được vẻ cổ kính đấy thôi?

Bà Bokova: Tôi đã đến chiêm ngưỡng Tháp Rùa và trực tiếp sờ tay vào những bức tường. Tôi xin nói thật, có vẻ nó đã được sơn bằng loại sơn không đạt chất lượng nên chỉ 20 năm nó đã có vẻ… cổ kính. Nhiều người trong Ủy ban điều tra độc lập cho rằng Tháp Rùa chỉ có tuổi thọ là 20 và vẻ cổ kính là ngẫu nhiên khi chất lượng vôi ve thấp và được làm cẩu thả một cách tình cờ. Khi đến Hà Nội, tôi được Ủy ban Unesco Việt Nam giới thiệu những tấm ảnh Tháp Rùa được các viên chức người Pháp chụp hồi đầu thế kỷ nhưng chúng tôi không tìm thấy sự liên quan giữa ngôi tháp trong ảnh và ngôi tháp mới hiện đang tồn tại. Hơn nữa, về mặt giá trị kiến trúc, trong sách Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội, từ năm 1971, tác giả Hoàng Đạo Thúy cũng đã đánh giá: “Bang Kim biếu Tây cái Tháp Rùa. Cái tháp này nhìn mãi cũng quen mắt, nhưng dưới thì cửa lối gô-tích, trên thì nóc vụn vặt, kiến trúc không ra lối gì”. Còn chùa Trấn Quốc. Nói thật tôi thấy cách thức trùng tu kiểu xây mới và việc bố trí những bộ bàn ghế gỗ trong hiên nom ngôi chùa này giống với một quán cà phê hơn.

PV: Thưa bà, không lẽ phố cổ không còn chút ấn tượng nào đối với bà? Không lẽ hơn 50 tỷ đồng bỏ ra để làm mới di tích cho du khách lại khiến những người nước ngoài không thích?

Bà Bokova: Câu trả lời thứ hai có thể nói được ngay: Không ai thích ở những ngôi nhà mới sáng choang và toàn mùi sơn nhưng lại rúm ró chật hẹp như thế cả. Người ta sẽ chỉ ấn tượng khi chiêm ngưỡng và hít thở sự cổ kính của di tích. Còn ấn tượng của tôi thì lại nằm ở sự ngạc nhiên với cách sống, thích nghi và đầy sáng tạo của cư dân phố cổ. Thật thích thú khi đi trên phố Hàng Bạc chúng tôi bất ngờ bắt gặp một nhà vệ sinh trên ban công tầng hai. Nếu các bạn gìn giữ được những di tích này, hy vọng trong tương lai, Unesco sẽ xem xét lại việc công nhận cho Hà Nội.

Xin trân trọng cảm ơn bà!

Nhà ống và xe gắn máy: diện mạo hay bản sắc?

Theo Bauxitevietnam

KTS. Võ Thành Lân

Nhà ống và xe gắn máy đã thực sự trở thành biểu tượng quốc gia của Việt Nam. Ảnh: Lê Toàn.

Câu hỏi của KTS Võ Thành Lân là cả một trăn trở của một người có kiến thức chuyên môn, vận dụng nó để nhìn vào một thực trạng xã hội.

Câu trả lời dễ hay khó? Nếu nhớ lại, khi được chất vấn về vấn đề kiểm soát các công ty nước ngoài thuê đất của ta dài hạn, một lãnh đạo cấp tỉnh hồn nhiên đáp: “50 năm nữa, ai làm thì người đó kiểm soát”, thì có lẽ không phải bận tâm tốn sức nhiều đi tìm cội nguồn sâu xa, liệu hiện tượng nhà ống và xe máy chen chúc là bản sắc hay là diện mạo của đô thị chúng ta hiện nay.

Mấy chục năm trước, khi Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô-viết còn tồn tại, dưới tên thổ ngữ viết tắt là CCCP, ấy thế mà từ thời ấy, dân ta đã đọc thành một câu vè hẳn hoi: “Các con cứ phá / Các cháu cứ phá / Của còn cứ phá / Còn chi cho phá!” Và thế là mấy chục năm trôi qua, ruộng hóa thành phố, phố bỗng thành sông…

Dẫu sao, tập tính manh mún, tùy tiện, vật vạ của nhà nông – một tập tính cố hữu lâu đời của người dân ta đã đóng một vai trò không nhỏ trong nếp nghĩ của người dân và giai cấp lãnh đạo. Khi một đất nước từ “chân dép lốp mà bay vào vũ trụ” (thơ Tố Hữu), thì chẳng kịp có gì làm hành trang, ngoài những thứ ấy, cũng là dễ hiểu!

Điều đáng ngại là những thói quen cổ hủ thì trở thành tập tính, còn bản sắc lại bị bào mòn, một ngày nào đó tập tính soán ngôi, bản lai diện mục sẽ khó còn nhìn ra.  Có lẽ ngày đó không đâu xa, mà nó đang lẩn quất quanh ta. Hãy nhìn vào những dự án “ma”- những dự án kiểu “Novotel-Hanoi” bỗng dưng “chễm chệ” giữa lòng công viên Thủ đô…

Nhưng chúng ta cũng có quyền hy vọng, bản sắc dân tộc Việt Nam vốn là một thứ vàng ròng đã được hun đúc qua nhiều thế hệ, chẳng thể nào bị hòa tan, dẫu rằng phải kinh qua không ít thăng trầm như đang thấy.

Câu hỏi của KTS Võ Thành Lân tưởng rằng dễ trả lời nhưng hóa ra không dễ chút nào.

Bauxite Việt Nam

(TBKTSG) – Bộ mặt đô thị là hình ảnh trực tiếp nhất thể hiện khía cạnh văn hóa xã hội của một đất nước. Sắc thái đô thị biểu hiện qua cách tổ chức không gian đô thị và không gian sinh hoạt xã hội.

Trên khía cạnh văn hóa quốc gia về nhận thức, trình độ, cách ứng xử nhìn từ góc độ đại chúng thì gia đình có thể được xem như là tế bào hình thành nên bộ mặt và không gian văn hóa quốc gia. Trong đó cái nết ăn ở của từng tế bào thể hiện và phản ảnh các giá trị cơ bản cấu thành tính cách của một dân tộc.

Người Việt Nam đang sống ở đâu và sống như thế nào trong cái không gian đô thị như hiện nay?

Bỏ qua những nhận định dài dòng mang tính biện minh cho một cái gì đó định sẵn; bỏ qua những câu nệ về văn hóa lịch sử nhì nhằng… Cứ nhìn thẳng vào thực tế những gì đang hình thành và diễn ra ngay trước mắt, không thể chối bỏ sự thực là hiện nay chúng ta đang sống trong những cái chợ, những cái chợ lớn nhỏ tùy theo quy mô của đô thị, của quần cư mà chúng ta đang hít thở và sinh hoạt mỗi ngày.

Những cái chợ theo nghĩa đen nhiều hơn nghĩa bóng với đầy đủ tính chất, đầy đủ các mặt sáng tối của từ này. Những cái chợ này đã xóa hẳn cái tiếng tăm Hòn Ngọc Viễn Đông của Sài Gòn, đã từng ngày nuốt chửng cái không gian thấm đượm màu sắc văn hóa lịch sử của Hà Nội, đè lên cái nét thi ca tự tình của Huế, đang dồn cái không gian lãng mạn ngút ngàn hoa cỏ của Đà Lạt dần đi vào dĩ vãng…

Cái gì mà có sức tàn phá một cách cuồng bạo, chỉ trong một thời gian ngắn đã làm biến thể cả một bộ mặt đô thị, bộ mặt đất nước như thế?

Tại các đô thị lớn nhỏ hiện nay, 90% dân số sống trong các nhà ống và sử dụng xe gắn máy là phương tiện đi lại chính. Nhà ống và xe gắn máy, chắc chắn đã là hình thái của xã hội ta. Có ai hay cơ quan nào xem xét cạn cùng vấn đề này để trả lời câu hỏi: Nhà ống và xe gắn máy là diện mạo hay bản sắc của Việt Nam? Câu trả lời không khó, vấn đề là chúng ta có thực sự nhìn nhận thực tế đó hay còn đang mộng tưởng vào những viễn cảnh đô thị xa vời nào đó hoặc đang để mối quan tâm hoài vọng về những giá trị tinh thần xa lắc trong quá khứ!

Nhà ống và xe gắn máy thực sự đã trở thành biểu tượng quốc gia. Biểu tượng: Hình ảnh + Tinh thần có tính chất phổ biến và trực tiếp tác động lên đời sống xã hội.

Không biết tự bao giờ và nguyên do từ đâu, người Việt bây giờ có lẽ đang sống và sắp đặt cuộc sống của mình theo kiểu đa hướng. Sự đa hướng là nguyên tắc tồn tại một cách có ý thức và vô thức trong suy nghĩ của mỗi người. Ai cũng thấy và cần phải biết làm cùng lúc nhiều việc khác nhau như là phương cách bắt buộc để tồn tại.

Đa phần sinh viên tốt nghiệp kiếm sống bằng công việc chẳng liên quan gì tới việc học trước đó; một quan chức nhà nước có thể ngồi vào bất cứ chiếc ghế nào và xử lý bất cứ loại công việc nào cũng được; trên đồng ruộng nay trồng cây này, mai cây kia và mốt lại hoàn toàn có thể trở thành nền nhà hay sân gôn… Nhà văn vừa viết vừa vẽ, nhạc sĩ vừa hát vừa phục vụ bia rượu cho các “thượng đế”; từ người mới biết đọc biết viết đến các bậc học giả ai cũng nói pha trộn lẫn lộn vào tiếng Việt cùng lúc mấy loại tiếng nước ngoài; tiền đồng, tiền đô, tiền Nhật, tiền châu Âu đều xài được.

Kiến trúc sư thường xuyên được các thân chủ yêu cầu thiết kế với tiêu chí: nhà tôi phải vừa ở vừa kinh doanh được, mặt bằng dành cho kinh doanh phải đáp ứng được nhiều dạng kinh doanh khác nhau, cụ thể là có thể cho thuê văn phòng, mở tiệm cắt tóc gội đầu, khi cần có thể cải biên thành quán ăn, khách sạn hay tiệm mát-xa… Thực tế trên đường phố hiện nay, có thể bên cạnh trụ sở công an là quán nhậu, rồi thì tiệm tạp hóa, thời trang, nhà giữ trẻ, quán karaoke, tiệm ăn… Ở đâu cũng kinh doanh mua bán, mua bán từ trong nhà ra tới lòng lề đường, đứng ngồi đủ kiểu. Người ta luôn cần một ngôi nhà đa dụng, mà một ngôi nhà đa dụng tốt nhất nên là một ngôi nhà mặt tiền.

Có cầu ắt có cung, thế là đô thị cứ lan rộng, nhiều khu đô thị mới đua nhau mọc lên với nhiều đường sá được xây dựng để đáp ứng nhu cầu mặt tiền. Nếu đô thị hiện hữu đã là những cái chợ thì đô thị mới cũng vậy, số vụ tai nạn giao thông không kiềm chế được bởi vì bây giờ người ta làm đường để bán đất chứ đâu phải để dùng cho giao thông!

Vấn đề đô thị lan rộng đã được thế giới rút ra nhiều bài học cay đắng, đô thị càng lan rộng thì không gian đô thị càng lâm vào bế tắc trên mọi mặt: giao thông, môi trường cảnh quan, phúc lợi xã hội… cộng thêm tệ nạn xã hội lan tràn không kiểm soát được, sự cân bằng môi trường sinh thái bị phá vỡ không gì cứu vãn được.

Đã là nhà ống thì nhất thiết phải sử dụng xe gắn máy. Phương tiện này có sự hữu hiệu không thay thế được. Chiếc xe gắn máy chiếm rất ít chỗ trong nhà, già trẻ, lớn bé, nam nữ đều sử dụng được, tiện lợi cho mọi mục đích đi lại và chuyên chở, khi cần có thể trở thành phương tiện sinh nhai và nhất là muốn dừng lại ở đâu cũng được. Nhà ống và xe gắn máy là hai mặt không thể tách rời của cơ cấu đô thị hiện nay, chúng tồn tại cộng sinh và như là một điều hiển nhiên tối ưu không phải bận tâm chọn lựa.

Dân tình bây giờ không phải tìm cách thích ứng với cơ cấu xã hội-môi trường đó mà chính là kiểu đô thị chợ với nhà ống và xe gắn máy đang quy định cách sống, cách ứng xử, cách suy nghĩ hay tựu trung màu sắc văn hóa của nó phủ lên toàn bộ đời sống xã hội đến từng cá nhân.

Mới đầu thì tập cho quen, dần dà trở thành tập tính và tư duy của cộng đồng. Tập tính và tư duy của kẻ chợ đó là:

Sống theo kiểu tranh cướp nhau: không gian công cộng điển hình là vỉa hè thuộc quyền sử dụng của kẻ nào ngang ngược và bặm trợn hơn. Người ta không mảy may ưu tư về việc buôn gian bán lận lừa lọc người khác và có khi coi đó như là một thủ thuật kinh doanh tất yếu. Thậm chí có nhiều quan chức còn đặt vấn đề đưa vỉa hè vào thương trường.

Sống ích kỷ và hung bạo: bây giờ người ta sẵn sàng gây hấn, xung đột nhau chỉ vì những nguyên nhân nhỏ nhặt nhất, ai cũng tranh được phần mình bất kể quyền lợi và danh dự của người khác. Nam nữ, già trẻ đua nhau vặt trụi một vườn hoa ngày Tết chỉ trong một buổi tối; 500 nhân viên chuyên nghiệp mới đủ để bảo vệ mấy cành đào…?!

Sống mất trật tự, xem thường kỷ cương: bây giờ cái gì cũng chạy, giấy phép loại gì cũng chạy (mà giấy phép bây giờ rất nhiều), con cái đi học cũng chạy, đau ốm vào bệnh viện cũng chạy, chạy thủ tục, chạy án, chạy tới công sở, chạy tới đình chùa miếu mạo, từ người tử tế đến kẻ bất lương tất cả đều phải chạy và hình như việc gì cũng có chỗ để chạy. Sẽ ra sao với một đất nước mà điều không thể vẫn có cơ hội để trở thành có thể và cứ như vậy thì luật pháp và những quy tắc cộng đồng sẽ chỉ dùng để trang trí vì khi đó phần thắng luôn thuộc về kẻ giỏi chạy, biết chạy bất cứ ở đâu và bằng gì!

Và cứ như thế xã hội ngày càng bát nháo, bát nháo không chỉ ở diện mạo của nó mà có sự góp phần một cách vô thức của từng cá thể cấu thành cái không gian giao tiếp, cái không gian tâm tưởng, cái không gian văn hóa…của cộng đồng chúng ta.

Trở lại vấn đề nhà ống và xe gắn máy, đã đến lúc xem xét vấn đề này không đơn thuần như là một diện mạo xã hội mà như một bản sắc quốc gia. Dẫu đau lòng, nhưng phải công nhận đó như là một sự thật hiển nhiên phải đối mặt, đó là một vấn đề văn hóa cấp quốc gia, là bộ mặt đất nước mà lương tri tối thiểu của người có chút suy nghĩ không thể bỏ qua hoặc ngó đi chỗ khác.

Có thể nào gọi là phát triển một khi phúc lợi xã hội ngày càng nghèo đi, diện mạo đất nước ngày càng luộm thuộm, lòng người ngày càng phân tán, nhỏ nhen. Nhiều đường sá được xây dựng, nhiều nhà cao tầng mọc lên, vật chất thời thượng tràn đầy, từ ngữ hiện đại và phong cách luôn được nói tới như một chuẩn mực sống văn minh và hội nhập. Nhưng phải chăng đó là một cách để che đậy sự nghèo nàn về tinh thần bên trong và biện minh cho sự tiếp nhận ào ạt màu sắc văn hóa ngoại lai tràn ngập; nó thúc con người lao vào cái bóng sáng ngoại nhập đó như con thiêu thân lao tới cái bóng đèn, xem đó là cái đích duy nhất, gạt sang một bên và bỏ lại sau lưng sự đằm thắm của nhân cách, sự tĩnh lặng của tinh thần. Mà đây mới là những giá trị bền vững cần có trên bình diện tồn tại của một cộng đồng, một dân tộc.

Có nhà văn nào đó đã nói một điều làm chúng ta phải suy nghĩ: “Nếu không mục ruỗng từ bên trong thì không có gì từ bên ngoài có thể thâm nhập được”.

Ngôi nhà, không gian sống, tế bào của xã hội bây giờ gần như không còn là nơi gìn giữ những giá trị tinh thần, những giá trị về màu sắc nhân văn riêng biệt trong tâm tính và tâm hồn của mỗi người Việt Nam tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ sau. Gia đình bây giờ tồn tại trong không gian xã hội, nơi mà ngôi nhà được dựng lên như là một giao điểm xã hội với mọi thứ xô bồ ngang dọc, mang đến toàn bộ tác động từ hoàn cảnh và môi trường chung quanh. Cái môi trường xã hội giàu sự đua chen và bắt chước lại rất nghèo về tinh thần và tính nhân văn.

Văn hóa không có trong những mộng ước. Văn hóa tồn tại trong thực tiễn đang diễn ra từng giây, từng phút, từng giờ, từng ngày. Mọi sự nhận định, phê phán, mọi sự mong muốn đều phải được rút ra từ phương pháp đối diện với cuộc đời, đối diện thẳng thắn với cội nguồn của sự việc.

Mọi sự bàn luận, đánh giá sẽ trở nên sáo rỗng nếu không xuất phát từ những định nghĩa có tính chất cốt tử.

Không phải là nhà nghiên cứu khoa học xã hội chuyên nghiệp, không có hệ thống dữ liệu để tổng hợp cho cái nhìn toàn diện; không thông thạo lịch sử và không là nhà nghiên cứu văn hóa…, với cái nhìn hạn hẹp và có phần chủ quan của một kiến trúc sư hay quan sát, cộng thêm chút kiến thức và cảm nhận về lịch sử phát triển đô thị thế giới trên khía cạnh nhân văn, tôi muốn nêu lên một câu hỏi – theo sự chủ quan cá nhân – có ý nghĩa quan trọng và căn bản để tạo tiền đề, điểm xuất phát cho bài toán hoạch định xã hội: “Nhà ống và xe gắn máy: Diện mạo hay Bản sắc?”.

VTL

Gửi người Việt Nam hoang phí

Khương Duy

Mỗi mảnh đất của quê hương là một mảnh thịt xương người Việt đã ngã xuống để giữ gìn. Sao không bằng sức mình làm giàu trên mảnh đất ấy? Trao nó vào tay người ngoài không chỉ là hoang phí mà còn là một mối nguy hiển hiện. Đó là một sự lãng phí có tội với tương lai của đất nước.

“Tiết kiệm là quốc sách” – câu nói ấy được lặp đi lặp lại không biết bao lần trên sách vở, báo đài nhưng dường như tác dụng của nó thực sự chưa thấm vào đâu. Tôi chợt nghĩ, đó là do người Việt Nam chúng ta không những không có bản tính tiết kiệm mà ngược lại còn vô cùng hoang phí, nên khẩu hiệu ấy mới như “nước đổ lá khoai”.

Hãy bỏ qua những “tiểu tiết” như tắt điện, tắt điều hoà khi ra khỏi phòng hay những bữa tiệc xa hoa của không ít người Việt Nam khiến người nước ngoài cũng phải “nể” – những sự hoang phí mang tính cá nhân như thế chưa thấm vào đâu so với “trào lưu” hoang phí của cả một đất nước.

Bắt đầu từ chuyện những hồ nước Hà Nội bị san lấp và nhiều cánh đồng “bờ xôi ruộng mật” khắp các tỉnh thành đột nhiên biến thành sân golf hay được bê tông hoá thành khu công nghiệp. Đúng sai, phải trái thế nào người dân đã nói quá nhiều. Tôi chỉ xin nhấn mạnh rằng việc xẻ thịt ao hồ, đồng ruộng như thế là cực kỳ hoang phí.

Ảnh: e-city.vn

Đâu phải thành phố nào trên thế giới cũng được thiên nhiên ban tặng hệ thống hồ đẹp và dày đặc như Hà Nội. Vậy mà chúng ta đã biến bao hồ lớn hồ nhỏ của thủ đô thành ao tù chứa rác, thậm chí còn muốn bức tử chúng để xây cao ốc, chung cư. Và dù biết rằng phải mất mấy trăm năm, mấy ngàn năm những mảnh đất cằn khô mới thành ruộng nước hai mùa trồng lúa, chúng ta vẫn nhẫn tâm đổ bê tông cốt thép lên trên để “xây cho nhà cao cao mãi”. Hành vi đó có thể gọi là gì ngoài hai từ hoang phí?

Ai đi qua đường Láng sẽ nhìn thấy tấm biển đề “Di tích lịch sử văn hoá Chùa Nền”, tấm biển mờ mịt vì bụi, chỉ lối vào một ngôi chùa luôn đóng cửa im ỉm, sân chùa đã được trưng dụng làm kho hàng, bãi gửi xe, trước cổng chùa ngổn ngang xi măng, sắt thép. Có phải vì cả nước có quá nhiều những “di tích lịch sử văn hoá đã xếp hạng” nên chúng ta thành ra coi thường? Nếu cứ hoang phí các di tích như thế, đến lúc chúng ta sẽ phải xếp chúng vào “sách đỏ” vì nguy cơ tuyệt chủng.

Cả những “di sản văn hoá phi vật thể” cũng đâu được chúng ta trân trọng. Sự hoang phí đội lốt bảo tồn mới đáng sợ làm sao: chúng ta háo hức giới thiệu với thế giới về ca trù, quan họ; sung sướng nếu trong cuộc giao lưu, bạn bè nước ngoài nói vài câu tiếng Việt hay hát một điệu dân ca. Nhưng chính chúng ta đâu có biết trân trọng chúng? Bao nhiêu người Việt Nam ngồi xem hết một vở chèo hay một vở cải lương? Chúng ta đối xử một cách lạnh nhạt những thứ mà ngoài miệng xưng tụng là tinh hoa. Với sự hoang phí ấy, liệu bao nhiêu bằng  công nhận của UNESCO mới đủ để giúp những tài sản tinh thần của dân tộc ta thôi tuyệt chủng?

Tôi chợt lạnh người khi gần đây báo chí đang xôn xao về chuyện nhiều địa phương cho nước ngoài thuê rừng, thuê đất. Ảnh: cadn.com.vn

Một sự lãng phí đáng lo ngại hơn nữa – lãng phí nhân tài. Đất nước ta có truyền thống hiếu học và trọng người có học. Nhưng giữa trọng thị và biết cách sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nhân tài lại có khoảng cách khá xa. Đã có bao nhiêu người tu nghiệp trời Tây, mong được về làm việc trong cơ quan Nhà nước nhưng rồi đành ngán ngẩm khăn gói ra đi “làm thuê cho Tây”. Bao nhiêu vị có học hàm học vị vẫn hàng ngày đến cơ quan chỉ để nhâm nhi nước chè? Bao nhiêu luận văn, luận án phủ bụi trong thư viện?

Nhân tài không phải như ao hồ tự nhiên mà có, để có một nhân tài, người mẹ đã đổ mồ hôi trên cánh đồng, người cha đã sôi nước mắt trên những cuốc xe ôm, người con đã mờ mắt vì những đêm chong đèn thức trắng. Vậy mà nhân tài cuối cùng đi đâu? Chợt nhớ lời của người xưa: “Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”. Nhưng với Việt Nam, có lẽ không phải số nhân tài quá ít nên không đủ lấp đầy “nhà trống”, mà vì nó trống trải, lạnh lẽo, khó sống quá nên nhân tài vào cửa trước ra cửa sau. Ai đó đã đúc kết một câu nói chua chát nhưng không phải không có lý rằng người Việt ta “giàu thì ghét, nghèo thì khinh, thông minh thì không dám dùng.” Nếu vẫn giữ sự lãng phí nhân tài, liệu đến bao giờ chúng ta mới có thể hoá rồng, hoá hổ hay mãi mãi chỉ loay hoay trong cái bẫy thu nhập trung bình?

Tôi chợt lạnh người khi gần đây báo chí đang xôn xao về chuyện nhiều địa phương cho nước ngoài thuê rừng, thuê đất. Chao ôi, mỗi mảnh đất của quê hương là một mảnh thịt xương người Việt đã ngã xuống để giữ gìn. Sao không bằng sức mình làm giàu trên mảnh đất ấy? Trao nó vào tay người ngoài không chỉ là hoang phí mà còn là một mối nguy hiển hiện. Đó là một sự lãng phí có tội với tương lai của đất nước.

Nếu không chịu tỉnh mộng, vẫn tưởng người Việt chúng ta luôn biết tiết kiệm, biết trân trọng những thứ mình có, đến một ngày sực tỉnh muốn trân trọng, muốn tiết kiệm những thứ ấy e đã muộn rồi.

Theo TVN/VNN

Tàn sát thiên nhiên nhân danh hủ tục

Đào Tuấn

Viết về vua Lý Nhân Tông, Đại việt sử ký toàn thư chép lại những việc lớn trong đạo trị quốc của vị vua, được các sử gia sau này đánh giá là minh quân, là một quân vương mẫn tiệp, bậc thần võ sáng suốt: Năm Ất Mão, 1075, nhà vua mở khoa thi tam trường còn gọi là Minh kinh bác học  để chọn người tài làm quan. Năm Bính Thìn, lập Quốc Tử Giám- trường đại học đầu tiên ở Đại Việt. Trong 56 năm trị quốc, nhà vua đã hai lần xuống chiếu cấm mổ trâu: “Kẻ nào mổ trộm trâu thì phạt 80 trượng, đồ làm khao giáp, vợ xử 80 trượng, đồ làm tang thất phụ và bồi thường trâu; láng giềng biết mà không tố cáo, phạt 80 trượng”. Lý Nhân Tông là người đầu tiên khởi xướng việc đắp đê phòng lũ mà đoạn đê Cơ Xá còn đến ngày nay. Và, năm 1722, nhà vua xuống chiếu cấm dân chúng mùa xuân không được chặt cây. Dù còn nhiều ý kiến, rằng việc bảo vệ cây xanh có lẽ xuất phát từ sự hâm mộ Phật pháp của nhà vua, song dường như khi đưa chi tiết này vào sử sách, các sử gia đã nhận thấy Ngài là vị vua đầu tiên trong lịch sử Việt Nam nhận thức được ý nghĩa của việc bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái vì sự sống còn của con người, nhất là đối với cư dân làm nông nghiệp. Đây cũng là lần đầu tiên, việc bảo vệ môi trường thiên nhiên được đưa vào luật để trăm quan và dân chúng cùng phải tuân theo.

Việc bảo vệ thiên nhiên, dường như từ bấy giờ đã được đánh giá quan trọng không thua kém gì việc dạy dân làm nông, đánh cá, mở trường dạy học.

Theo phong tục cổ truyền, người Việt có tục bẻ lấy một cành lộc để mang về nhà lấy may, lấy phước. Đó là tục hái lộc. Cành lộc là một cành đa nhỏ hay cành đề , cành si … là những loại cây quanh năm tươi tốt và nẩy lộc. Tục hái lộc ở các nơi đền, chùa ngụ ý xin hưởng chút lộc của Thần, Phật nhân năm mới. Lộc xuân hái từ những cây thuộc bộ tứ linh đa, sung, xanh, si, theo quan niệm xưa, sẽ đem lại kết quả tốt đẹp.

Nhưng từ nhiều năm nay, việc hái lộc mà thực chất là bẻ lộc, là tàn sát thiên nhiên, đã nghiêm trọng đến mức cái ý nghĩa phong tục đã biến mất, nhường chỗ cho hai chữ hủ tục gây bức xúc trong xã hội.

Đêm 30 tết Canh Dần, người dân ở Đồng Hới, Quảng Bình đã bằng mọi giá “tàn phá” cây xanh trước các trụ sở ngân hàng, kho bạc dù dưới gốc cây có… công an đứng gác. Ở Hà Nội, các tuyến phố thuộc Quận Cầu Giấy, Tây Hồ trở nên xơ xác vì chuyện hái lộc sau đêm 30, đặc biệt tại các khu vực gần chùa chiền. Không chỉ đa, sân, si, người ta “hái” bất cứ cành gì, của bất cứ loại cây gì. Không chỉ bẻ bằng tay, người ta còn mang dao ra để chặt. Có người nói: Sự chặt phá và chiếc dao là biểu tượng của sự chết chóc, của sát khí, của sự tàn hại… khiến cho cây cối của mùa xuân vốn là biểu tượng của sự sống bị sứt sẹo, què cụt, vì một chữ “lộc”. Không lẽ cứ mỗi dịp tết đến xuân về, mỗi một cây xanh sẽ lại phải lăm lăm hai, ba công an để ngăn chặn chuyện tàn sát cây nhân danh hủ tục “hái lộc”?

Vào giao thừa năm Mậu Tý, tại Hồ Hoàn Kiếm- Hà Nội, hơn 30 nhân viên của Viettel đã triển khai thực hiện chương trình “Vui lộc đầu xuân” với 10 ngàn “Lộc may mắn” là những câu đối Tết có gắn búp bê cầu may cho người dân đi chơi giao thừa. Đây là một sáng kiến rất hay nhằm giảm bớt tình trạng bẻ cành, tàn phá cây cổ thụ xung quanh hồ Gươm. Rồi thì tại hầu hết các chùa, đều có bán các loại cây “lộc” đầu năm như mía, cây sống đời. Nhiều ngôi chùa nổi tiếng như Chùa Hà, thậm chí tiến hành phát lộc cho những người đi lễ đầu năm. Nhưng tất cả những việc làm đó không ngăn được sự tàn phá của hủ tục hái lộc.

Cách đây chưa lâu, khi những đoạn video clip quay cảnh những người đi Lễ hội Hoa Anh Đào tại Hà Nội xúm vào vặt trụi ba cây Anh Đào xinh đẹp được kỳ công mang từ đất nước mặt trời mọc sang khi lễ hội còn chưa bế mạc, những người tự trọng đã đỏ mặt vì xấu hổ.

Gần đây nhất, tại Lễ hội Hoa Hà Nội, ngay dưới chân tượng vua Lý Công Uẩn, người ta, với đủ cả nam phụ lão ấu đã tranh cướp, tàn phá trong nhốn nháo và hỗn loạn đến mức những người nước ngoài được chứng kiến đã phải lắc đầu mà than rằng: “Crazy”

Những cành cây xanh, những bông hoa được những người bẻ, người cướp coi là lộc để lấy may dù bẻ cây, cướp hoa không phải là một phong tục tốt đẹp, không phải là một nét đẹp văn hóa. Đó là điều đáng hổ thẹn. Bởi việc tàn sát thiên nhiên để lấy lộc cho riêng mình nhiều khi cũng dã man cũng như tục dâng hiến sinh linh từng mông muội một thời. Và, không thể biện minh cho hành vi thiếu văn hóa và tàn phá thiên nhiên bằng bất cứ lý do gì, dù đó là tục lệ.

Bây giờ mới bắt đầu tháng hành hương của năm du lịch 2010 với dày đặc các lễ hội, các sự kiện văn hóa. Liệu những ngôi chùa hàng trăm năm tuổi, những di tích mà mỗi cành cây ngọn cỏ đều in dấu của lịch sử sẽ ra sao nếu như thiếu vắng màu xanh chỉ vì nạn “hái lộc”? Có còn lễ hội, còn văn hóa, còn lịch sử nếu hủ tục này tiếp tục được duy trì và dung dưỡng bằng sự thiếu ý thức văn hóa nhân danh tục lệ?

Năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động Tết trồng cây trong toàn dân với lời dạy: “Việc này ít tốn kém mà lợi ích nhiều”. Đã có rất nhiều ý kiến cho rằng: “Hái lộc đầu xuân” là một trong những hủ tục không nên duy trì. Vì sao chúng ta không khai xuân mới bằng cách duy trì phong tục tốt đẹp là trồng cây thay cho sự tàn sát, chặt phá cây xanh mà từ đầu thiên niên kỷ thứ nhất vua Lý Nhân Tông đã coi đó là hành vi phá hoại được đưa vào luật để cấm triệt để?


Làm sao thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình? – P/v Lê Đăng Doanh

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh



Ngân hàng Thế giới (WB) vừa chính thức công bố, VN trở thành nước có mức thu nhập trung bình. Tuy nhiên, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh lại có góc nhìn khác về kết quả này.


Thu nhập chủ yếu từ tài nguyên

Là chuyên gia kinh tế, ông đánh giá thế nào về kết quả mà WB vừa công bố?

Trước hết, có thể nói chỉ tiêu GDP bình quân đầu người, là một chỉ tiêu thô, tổng hợp và nó không nói gì được về sự bất bình đẳng về thu nhập trong xã hội. Có thể, một vài đại gia về bất động sản, ngân hàng, chứng khoán có thu nhập cả hàng trăm triệu USD/năm, trong khi đó những người nông dân nghèo, vẫn đang rất nghèo. Việc công bố về tỷ lệ hộ nghèo của VN (12,3%), nhưng ngay cả con số đó cũng chưa bao quát được hết, vì cái chuẩn hộ nghèo của chúng ta đã không kịp điều chỉnh theo trượt giá và chỉ tiêu lạm phát.

Có nghĩa là ông không đồng ý với WB?

Chưa hẳn thế. Theo tôi, việc VN từ một nước nghèo, có thu nhập thấp trở thành một nước có thu nhập trung bình đã là một kết quả rất đáng trân trọng thể hiện nỗ lực của VN trong vòng nhiều năm. Nhưng chúng ta cần phải nhìn lại và xem mức thu nhập đó có được dựa trên kết quả nào và trong tương lai, VN sẽ có thể vượt lên được cái “bẫy” có thu nhập trung bình hay không?

Cái “bẫy” ở đây là gì, thưa ông?

Người ta phân biệt cái “bẫy” thu nhập trung bình thành hai loại: Bẫy lương thấp, tức là những nước nghèo chỉ có làm gia công, lắp ráp, nên lương thấp. Còn công việc nghiên cứu khoa học, phát triển, triển khai, thiết kế thì không làm được. Việc phân phối, tiếp thị cũng không làm được. Để làm được các khâu đó đòi hỏi phải có trình độ cao.

Ngay thu nhập trung bình, người ta cũng chia ra làm 3 nhóm: Thu nhập trung bình thấp (1.000- 4.000 USD/người/năm). Trung bình trung bình (4.000- 8.000 USD/người/năm) và trung bình cao (tức 8.000-9.600- 9.800 USD/người/năm). Còn trên 10.000 USD/người/năm là nước có thu nhập cao và gia nhập nhóm OECD (các nước phát triển mới), mà gần đây nhất là Chile đã đạt được mức này.

Như ông vừa nói, cần phải xem mức thu nhập đạt được dựa trên kết quả nào, vậy VN đạt được thành tựu là nước có thu nhập trung bình dựa vào đâu?

Để đạt được thành tựu này, VN đã có một số thay đổi lớn: Chúng ta đã chuyển ra kinh tế thị trường, phát huy được tinh thần kinh doanh, sự năng động của những người dân và thu hút được đầu tư nước ngoài.

Tuy nhiên, điểm mấu chốt để đạt được sự tăng trưởng đó là chúng ta dựa vào khai thác tài nguyên và sử dụng lao động giá rẻ, tức làm gia công, lắp ráp. Thu nhập của VN hiện nay dựa vào tới hơn 70% từ tài nguyên, gồm có: Dầu thô, than đá, các khoáng sản, gỗ, gạo, thuỷ sản, cao su, cà phê. Thủy sản cũng chỉ mới là đông lạnh, chưa có chế biến. Điểm chúng ta phải tỉnh táo nhận ra, khi chúng ta đạt được mức thu nhập trung bình là trong bối cảnh, bất bình đẳng trong xã hội đã ở mức rất cao. Một số người buôn bất động sản, buôn bán chứng khoán rất giàu nhưng không tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội.

Như vậy, có thể nói thu nhập của chúng ta vẫn chủ yếu là “bán máu” (khai thác tài nguyên) và “ăn sổi” (bất động sản, chứng khoán)?

Chúng ta rất mừng khi một người nông dân áp dựng KHCN vào sản xuất các cây, con mới, tạo công ăn việc làm cho nhiều người. Nhưng chúng ta cũng hết sức lo ngại, khi có những kẻ khai thác, tàn phá tài nguyên như đạp đá, bốc cát bừa bãi. Tất cả những cái đó đều không nộp vào ngân sách và ít tạo ra công ăn việc làm. Chúng ta đạt được mức thu nhập đó, nhưng cái vốn quý lớn nhất của chúng ta, là con người, thì lại không đào tạo được họ để trở thành những người có trình độ cao.

Chúng ta vẫn chưa thể đào tạo được chuyên gia nào để hoạt động, làm việc ở nước ngoài bằng nền giáo dục của chúng ta. Hầu hết những người VN đang làm việc ở nước ngoài hiện nay đều được đào tạo ở nước ngoài. Rồi chúng ta cũng không có một chuyên gia tài chính nào được đào tạo ở trường VN mà đi “kiếm cơm” được ở nước ngoài.

Thu nhập của VN hiện nay dựa vào tới hơn 70% từ tài nguyên.
(Ảnh minh họa)

Cải cách toàn diện để vươn lên

Như ông nói ở trên, vấn đề thu nhập ở đây của chúng ta mới dựa vào “sức”, chứ chưa dựa vào “trí”. Để chuyển từ “sức” sang “trí”, chúng ta cần những thay đổi gì?

Chúng ta đạt được thành tựu này trong bối cảnh ô nhiễm môi trường đang diễn rất nghiêm trọng từ sông ngòi cho đến ao, hồ. Rồi nạn phá rừng ngày càng nghiêm trọng, phá rừng làm cho nước nguồn ngày càng cạn kiệt, lũ bão ngày càng gay gắt hơn, khô hạn nghiêm trọng hơn. Vì vậy, bên cạnh những thành tựu đáng trân trọng đó, chúng ta cũng phải thấy hết được những hạn chế, khuyết điểm, thiếu sót để khắc phục.

Ngay khi công bố kết quả này, WB cũng đã có rất nhiều lời khuyên đối với VN, nhất là về vấn đề cải cách để tiếp tục phát triển. Theo ông, VN cần phải cải cách những lĩnh vực nào?

Như tôi đã nói, chúng ta rất lo ngại cái “bẫy” thu nhập trung bình như các nước Đông Nam Á, từ Thái Lan đến Philippin, Malaysia, Indonesia…chỉ quanh quẩn ở mức thu nhập trung bình từ nhiều năm nay, tức chỉ dao động ở mức từ 1.500-5.000 USD/người/năm, không lên nổi. Chỉ có Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc vươn lên được.

Cũng xin lưu ý là, chúng ta đạt được thành tựu này trong bối cảnh nạn tham nhũng ngày càng trở nên trầm trọng. Bản thân chúng ta cũng lên án rất gay gắt tham nhũng, nào là “giặc nội xâm”, kẻ thù của đất nước nhưng trên thực tế việc hành động đạt được kết quả rất thấp.

Một khi muốn đạt được mức tăng trưởng mà giảm dần việc phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, chúng ta sẽ cần chuyển sang khai thác những nguồn lực nào?

Phải có sự cải cách rất rõ từ giáo dục, cho đến y tế, môi trường và phải có một quyết tâm chính trị như cách làm của Hàn Quốc, từ một nước rất nghèo phải đi XK lao động, XK tóc giả, nhưng chỉ trong một thời gian rất ngắn đã chuyển sang đóng tàu, XK ôtô, điện tử. Do đó, chúng ta cần chuyển từ việc tăng trưởng chiều rộng dựa vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ sang xây dựng các DN có thương hiệu, có năng lực cạnh tranh quốc tế, thế giới, phát triển KHCN, dựa vào đội ngũ lao động có trình độ, trí thức.

Phải giải quyết từng bước, có quyết tâm những sự bế tắc như tôi đã nói ở trên, trước hết là thay đổi bộ máy hành chính có năng lực hơn, tiếp tục chống tham nhũng, giải quyết ô nhiễm môi trường, thu nhập bất bình đẳng và các vấn đề xã hội.

Thực tế, thu nhập bình quân đầu người của chúng ta là như vậy, nhưng tiền lại chỉ tập trung vào một số ít người, còn đại đa số dân ta vẫn nghèo. Chúng ta có nên kiến nghị WB thay đổi công bố này?

Chúng ta không thể thay đổi được hoặc báo cáo với họ là chúng ta tái nghèo, mà phải vươn lên, phải tiến tới thành một nước phát triển, làm nghĩa vụ đi giúp đỡ các nước khác như cách làm ban đầu là chia sẻ và cử chuyên gia sang châu Phi hỗ trợ về SXNN. Có thể coi đây là bước ngoặt của sự thay đổi, chúng ta đang đứng giữa ngã 3 đường, nếu không vượt qua được, mình sẽ mãi mãi trở thành một nước “làng nhàng” quanh quẩn ở ngưỡng 1.000- 2.000 USD/người/năm, đấy là chưa kể đến các sự tác động mới như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường.

Bauxite Việt Nam

Xin đừng “bóp cổ” công viên

Mất không gian công cộng, mất công viên, chúng ta không chỉ mất những lá phổi xanh của mình mà còn mất ký ức, mất bản sắc…

Theo thống kê của Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam gần đây, diện tích cây xanh công cộng trên đầu người ở nội thành Hà Nội là 0,9 m2/người. Diện tích cây xanh này gồm cây xanh ở các vườn hoa, công viên, ở các dải phân cách đường và trên các vỉa hè đường.

Trong khi đó, tỷ lệ này trên thế giới rất cao: ở London, Berlin, New York, Moscow đều gần 30m2/người. Tỷ lệ trên ở TP.HCM còn thấp hơn, khoảng 0,7m2/người. Hà Nội đang đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, tỷ lệ này sẽ là 16m2/người. TP.HCM đặt chỉ tiêu “hiện thực” hơn: 4-5m2/người cho đến năm 2025. Tại sao ta dùng từ “hiện thực” ở đây?

Bởi vì các đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM sẽ ngày càng phình to vì sự di dân cơ học từ nông thôn ra thành thị. Nhà cửa, đường sá sẽ là ưu tiên hàng đầu rồi mới đến công viên cây xanh. Chưa nói đến chuyện đặt mục tiêu mở rộng diện tích cây xanh công cộng, chỉ cần lo giữ cho làm sao các công viên, vườn hoa hiện tại không bị “bóp cổ” bởi vô số các hoạt động thương mại, dịch vụ khác là tốt lắm rồi.

Tình trạng phổ biến hiện nay ở các vườn hoa là mặt bằng bị chiếm dụng để kinh doanh quán giải khát, quán nhậu với bàn ghế bày ra bít hết đường chạy của người tập thể dục. Nhiều mặt tiền công viên bị chiếm dụng để kinh doanh cây cảnh, mở siêu thị, làm bãi giữ xe. Còn khuôn viên bên trong công viên bị chiếm dụng để làm sân quần vợt, sân khấu ca nhạc, nhà hàng tiệc cưới. Như công viên Tao Đàn rộng 18ha ở TP.HCM chẳng hạn, công ty cây xanh chỉ quản lý có 9,8ha, phần còn lại là trụ sở các cơ quan, cửa hàng kinh doanh, dịch vụ ăn uống.

Công viên Thống Nhất là công viên lớn nhất ở Hà Nội với 27,8 ha diện tích mặt đất và 21ha mặt nước. Nhưng nếu so với các công viên trên thế giới thì chưa thấm vào đâu. Central Park ở New York rộng 341ha, quần thể Hyde Park và Kensington Gardens ở London rộng 253ha. Vậy mà Thống Nhất còn nhiều phen bị nhăm nhe “xẻ thịt”.

Năm 2007, dưới sức ép của dư luận, dự án Disneyland xây dựng trong khuôn viên công viên Thống Nhất đã bị hủy bỏ. Nhưng đến năm 2009, dự án khách sạn Novotel on the Park của liên doanh Tập đoàn Accor, Tập đoàn đầu tư SIH và Tổng công ty Du lịch Hà Nội lại chèn vào đó. Novotel on the Park đã gây lên sự bất bình mạnh mẽ trong nhân dân.

Central Park nằm ngay ở khu Manhattan giàu có nhất New York, thủ đô tài chính của thế giới. Nếu chính quyền New York mà cho “xẻ thịt” Central Park để làm các khách sạn thì họ đã kiếm được bộn tiền. Nhưng họ không bao giờ làm thế bởi công viên được mở năm 1859 này là trái tim và lá phổi của thành phố, mỗi năm đón tới 25 triệu lượt khách. Các tòa nhà cao ốc có thể được dựng lên rất nhiều nhưng không tòa nhà nào thay thế được tính biểu tượng cho New York của Central Park. Một khi công viên bị “xẻ thịt” thì không thể nào “đắp thịt” lại cho nó được nữa.

Một trong các yếu tố nhằm nâng cao diện tích cây xanh công cộng của một thành phố là nâng cao diện tích cây xanh ở các khu chung cư, đô thị mới. Song nhiều nhà đầu tư thiếu hợp tác trong lĩnh vực này. Quy chuẩn về mật độ xây dựng ở một khu đô thị mới được Bộ xây dựng ban hành là không được quá 40% nhưng tại nhiều khu đô thị, mật độ xây dựng lên tới 70%. Các nhà đầu tư thường xây các khu nhà “chật căng” trong khu đất của mình để tối đa hóa lợi nhuận. Ở các khu tập thể, chung cư cũ, diện tích cây xanh, sân chơi cũng đang “teo biến” dần để nhường chỗ cho nhà cửa, các hoạt động, kinh doanh.

Mọi người có vẻ như đang nỗ lực biến không gian công cộng thành không gian riêng của mình. Có một kiến trúc sư từng nói: “Không gian công cộng là nơi lưu giữ các ký ức của một cộng đồng”. Mất không gian công cộng, mất vườn hoa, mất công viên, chúng ta không chỉ mất những lá phổi xanh của mình mà còn mất ký ức, mất quá khứ, mất bản sắc…

* Tính theo đầu người, số lượng công viên trong thành phố chúng ta là ít, nhưng thực tế công viên lại đang bị “dư” vì chẳng có mấy người thích vào vì tình trạng bát nháo ở đây. Trước khi nghĩ đến việc xây thêm những công viên mới, tôi nghĩ chúng ta cần cải tổ những công viên hiện có (tình trạng hồ không có nước, cây xanh chết khô, hoa thì xơ xác) để chúng có thể thành những mảng xanh thực sự cho thành phố. Ngô Thanh Hải (32 tuổi, kỹ sư, Lam Sơn JOC)


* Tôi từng nghe tin về dự án xén đất ở công viên Thống Nhất (Hà Nội) để xây khu vui chơi, khách sạn. Hình như cũng đã tiến hành cắt xén được vài ngày rồi, nhưng vì cộng đồng kiến nghị mà kế hoạch này phải ngưng lại. Nghe mà thấy chán. Cứ cái kiểu chạy đua xây cao ốc, khách sạn, trung tâm thương mại như hiện nay, thành phố mình chẳng mấy chốc vắng bóng công viên. Nguyễn Phương Chi (24 tuổi, giảng viên đại học KHTN, TP.HCM)

Thành phố nhiều cây xanh nhất thế giới

* Sacramento – thành phố nổi tiếng của bang California (Mỹ) là nơi có số lượng cây xanh nhiều hơn bất kỳ thành phố nào khác trên thế giới (bao gồm cả Paris, Pháp).

* Nhờ có nhiều tán cây xanh bao phủ khắp nơi, ở Sacramento mùa hè rất mát mẻ, nhiệt độ cao nhất chỉ 36 độ C. Người ta cho rằng, bầu không khí luôn trong lành, dễ chịu dưới tán cây xanh cũng giúp các lái xe bình tĩnh hơn khi cầm vô-lăng.

* Hiện nay, thành phố Sacramento đang thực hiện kế hoạch 40 năm để tăng gấp đôi số lượng cây xanh bao phủ. Kế hoạch này do tổ chức phi lợi nhuận Sacramento tree foundation (Quỹ phát triển cây xanh Sacramento) thực hiện, kêu gọi những người dân tình nguyện tham gia trồng thêm cây xanh khắp các nẻo đường, con phố với mục tiêu là đạt số lượng 5 triệu cây xanh mới vào năm 2025.

* Nếu Sacramento thành công thì ngoài việc giúp không khí trong lành hơn, nguồn nước sạch hơn… còn giảm đi một nửa số lượng những ngày sương mù ở đó, một nhà khoa học của Nasa cho biết như vậy.

  • Đinh Hiệp (Theo Thanh Nien Online)

Khạc nhổ có thể mất nhà

Người dân có thể tự mình đánh mất nhà cửa, lâm vào cảnh vô gia cư nếu bị phát hiện khạc nhổ tại nơi công cộng bảy lần. Đây là quy định ở một khu liên hợp nhà ở cho người có thu nhập thấp tại thành phố phía nam Trung Quốc.
a
Ảnh jaunted

Vứt vỏ hoa quả, nhổ kẹo cao su ra đất và tiểu tiện không đúng quy định nơi công cộng… là những hành vi bị cấm được liệt kê trên trang web tại Quảng Châu. Quy định này là một phần đề xuất nhằm tăng cường hành vi cư xử ở dự án nhà ở mới.

Người dân bị ghi 20 điểm phạt trong vòng 2 năm có thể bị mất nhà. Người bị bắt gặp khạc nhổ hoặc tiểu tiện sai quy định nơi công cộng mỗi lần bị ba điểm phạt, bảy lần như vậy sẽ bị “trục xuất”.

Hiện chính quyền địa phương còn đang thu thập phản hồi của người dân về kế hoạch này.

Khạc nhổ nơi công cộng khá phổ biến ở Trung Quốc bất chấp có nhiều chiến dịch phản đối. Trước kỳ Olympic 2008 tại Bắc Kinh, Trung Quốc đã nỗ lực đáng kể để ngăn chặn thói quen xấu này.

  • Kỳ Thư (Theo Vietnamnet)