Nhớ lắm, một Việt Nam thuần khiết!

Một thập niên qua VN đã phát triển thế nào? Những thành tựu đạt được thật đáng kinh ngạc nhưng cũng còn một vài bản sắc tốt đẹp bị cuốn theo bánh xe phát triển. Đánh giá VN mười năm qua, những người nước ngoài sống ở VN lại nuối tiếc những bản sắc ấy nhất.

Một đám cưới người nước ngoài dùng xích lô thay xe hoa trên đường phố Sài Gòn những năm 1990 – Ảnh tư liệu

* Jimmy Gustafson (người Mỹ, giảng viên Trung tâm ACET, TP.HCM):

Đâu rồi sự thanh thản..?

Tôi cùng gia đình chuyển đến sống ở TP.HCM từ năm 1993 và thú thật nơi đây lúc ấy khác bây giờ nhiều lắm. Trên đường phố lúc ấy chưa có nhiều ôtô cá nhân bóng loáng, những chiếc xe phân khối lớn đắt tiền, những chuyến taxi máy lạnh hối hả đón đưa khách. Nhịp sống chậm rãi và thảnh thơi như những vòng quay của chiếc xích lô dễ dàng bắt gặp trên khắp các nẻo đường ngõ phố.

Những anh đạp xích lô với dáng gầy gò, khắc khổ, mặc tấm áo may vá chằng chịt, vẫn đạp xe một cách thảnh thơi, không vội vã qua những con đường rợp bóng cây xanh. Tôi nhớ mình đã cảm thấy thật thanh thản, bình yên như thế nào khi ngồi trên xích lô, ngửa đầu và tận hưởng không khí trong lành, tinh khiết của thành phố trẻ này.

Thành phố bấy giờ cũng không có những trung tâm mua sắm cao cấp, những tòa nhà chọc trời tráng lệ và càng không có những quán cà phê wifi trang bị theo đẳng cấp quốc tế. Khi đó chỉ có những quán cóc vỉa hè dựng tạm bợ cạnh gốc cột điện hay dưới tán cây với những chiếc ghế đẩu con con…

Không nệm lót êm ái, không hơi máy lạnh, không điệu nhạc sôi động, ấy vậy mà tôi vẫn thấy ngạc nhiên thích thú khi ngồi gần như chồm hổm trên những chiếc ghế mộc mà nhâm nhi chút cà phê phin buổi sáng. Một sự bình dị đến độc đáo, khó thấy được ở bất cứ nơi nào.

Nhưng điều khiến tôi ấn tượng nhất là câu chuyện về kỷ niệm tuy “đau thương” nhưng đầy ắp tình người của cha mình.

Ngày ấy, gia đình tôi sống ở khu vực trung tâm thành phố và cha tôi thường đến ăn ở những nhà hàng gần nhà. Có lần ông đi ăn sáng nhưng đến lúc tính tiền mới phát hiện… quên mang ví. Dĩ nhiên ông cảm thấy rất lo lắng và xấu hổ, miệng cứ lắp bắp khi người chủ đang tiến lại gần mình. Với vốn tiếng Việt rất hạn chế, cha tôi đã giải thích tình huống khó xử của mình và sẵn sàng để đồ lại nếu nhà hàng yêu cầu.

Thế nhưng trái với sự lo xa đó, người chủ nhà hàng đã nở một nụ cười thật tươi và để ông đi về mà không cần phải làm gì cả. “Tôi tin ông sẽ quay lại và trả tiền” – câu nói đó khiến cha tôi cảm thấy rất tự hào và yêu con người ở đây hơn bao giờ hết.

Đó là những lý do đã níu chân tôi lại vùng đất này để sinh sống và làm việc.

Đành rằng VN đang ngày một phát triển, hiện đại, thế nhưng tôi vẫn cảm thấy tiếc và nhớ một VN thuần khiết của 16 năm trước lắm. Một VN mà khi nhìn vào người đi đường, bạn sẽ nhận ra ngay đó là một người Việt thật sự, chứ không ngờ ngợ đó là người Hàn hay Mỹ… như bây giờ. Một VN mà khi sinh sống nhưng không nói được tiếng Việt, bạn sẽ vẫn cảm nhận được sự thoải mái, hạnh phúc và thân thiện từ mọi người.

* Rad Kivette (62 tuổi, người Mỹ, giám đốc tại VN của Làng toàn cầu – Global Village Foundation, tổ chức phi chính phủ và phi lợi nhuận):

Tâm hồn VN vẫn như vậy

Lần đầu tiên tôi đến Đông Nam Á là năm 2001. Khi đó tôi đã biết rằng tôi sẽ dành đời mình vì VN. Sự đa dạng văn hóa, lối sống, những triết lý và những tính cách con người đã hấp dẫn tôi (đến nay vẫn vậy). Cuộc sống đã thay đổi nhiều ở đô thị VN trong gần mười năm qua. Ở các vùng quê thì ít thay đổi hơn.

Sự xuất hiện tầng lớp trung lưu ở đô thị VN là sự thay đổi tích cực và lớn lao. Năm 2001, hầu như tầng lớp này chưa xuất hiện rõ ràng. Các khu nghỉ mát 5 sao, nhà hàng xịn nhất bây giờ có nhiều người VN chứ không chỉ phục vụ khách nước ngoài nữa. Nó cho thấy VN đang có nhiều bước tiến.

Nhưng còn đó nhiều điều tiêu cực trong sự chuyển đổi kinh tế – xã hội là số người chết vì tai nạn trên đường phố cao, tắc nghẽn giao thông khiến dân chúng lãng phí thời gian, tỉ lệ mắc HIV/AIDS cao, rồi sử dụng rượu, ma túy… Ngoài ra, một thế hệ trẻ dường như không còn duy trì được truyền thống thân thiện mến khách và thanh lịch của những thế hệ trước.

Một lĩnh vực đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn cần chúng ta chú ý là tình trạng của những người kém may mắn ở vùng sâu vùng xa và những người dễ bị tổn thương bị bỏ rơi lại trong quá trình phát triển. Hàng triệu phụ nữ, trẻ em, những người khiếm khuyết về thể chất và những người dân tộc thiểu số đã bị bỏ rơi lại phía sau. 16% dân số sống dưới mức đói nghèo và hàng triệu người sống trên đó một chút. Từ 14-17 triệu người bị suy dinh dưỡng, trong đó có 40% là trẻ em. Tỉ lệ trẻ em sơ sinh và bà mẹ có thai chết cao gấp ba lần so với tỉ lệ tử vong trung bình cả nước. Hệ thống giáo dục còn nghèo nàn và tỉ lệ em gái bỏ học cao.

Có rất nhiều thay đổi ở VN trong chín năm qua. Cần có thêm thật nhiều thay đổi nữa. Tuy nhiên, tâm hồn của VN vẫn như vậy. Tôi thấy rõ sự quyết tâm thay đổi đang chiếm ưu thế.

* Sebastian Allen (người Đức, doanh nhân):

Trở nên nữ tính hơn nhờ sống ở VN

Tôi không ở hẳn VN những năm qua nhưng tôi đi về giữa Đức – Anh – VN hầu như mỗi năm, vì thế tôi có một cái nhìn phần nào khá đầy đủ về quốc gia này.

So với mười năm trước VN hiện tại đã thay đổi nhiều lắm, sự thay đổi đó lớn đến nỗi vợ của tôi phải há hốc mồm kinh ngạc khi quay lại và thấy quá nhiều tòa nhà cao tầng ở các quận trung tâm vào năm 2007.

Tôi thường đùa với vợ rằng ở VN tôi đã tìm thấy một “tình yêu” mới. Đó chính là con người, nhịp sống ở đây. Có thể là tích cực hoặc tiêu cực tùy theo cách nhìn nhận, nhưng nhịp sống ở VN không quá căng thẳng như ở những quốc gia khác mà tôi từng làm việc… và đó là điều làm tôi vô cùng thích thú.

Nói ra điều đó vô tình tôi phát hiện ra mình và vợ có chung một “người tình”. Vợ tôi khẳng định tình yêu của mình dành cho VN lớn hơn của tôi. Tôi còn nhớ rõ một câu nói mang đầy vẻ tự hào của cô ấy, tuy đơn giản nhưng khá sâu sắc: “Ở VN, em trở nên nữ tính hơn bao giờ hết”.

TTO/CÔNG NHẬT – KHỔNG LOAN

Thương lắm Hà Nội ơi

Tôi không phải là người Hà Nội gốc. Có lẽ vì thế mà nhiều người bảo tôi không có cái cốt cách của người Hà Nội. Tôi không phủ nhận. Nhưng tôi vẫn yêu Hà Nội, tình yêu đối với một Thủ đô thiêng liêng ngàn năm văn hiến. Và rồi tôi cũng chạnh lòng trước những trăn trở thường nhật của người Hà Nội. Thương lắm Hà Nội ơi!

Thương lắm Hà Nội ơi! Nguồn: vietbao.vn

Thương lắm Hà Nội ơi! Nguồn: vietbao.vn

Thời còn học phổ thông, ao ước lớn nhất của tôi là được một lần đặt chân tới Hà Nội (mặc dù quê tôi cách Hà Nội có hơn 60 cây số). Thích thú biết bao khi được sải bước trên những con đường lộng gió thênh thang, được dạo chơi trên những con phố cổ, ngắm hồ Gươm xanh, những toà nhà cao vút… Hà Nội trong mắt tôi ngày ấy vừa hiện đại nhưng cũng rất cổ kính, nơi mà ta có thể sống cho cả quá khứ và cả tương lai.

Lên đại học, tôi như thoả được niềm mong ước ngày nào. Háo hức như một đứa bé thơ, tôi sục sạo khắp phố phường Hà Nội, tìm hiểu và khám phá Hà Nội một cách  say mê và thích thú. Nhưng rồi bỗng hụt hẫng, chênh chao. Những cảm xúc tươi mới qua đi thật chóng vánh.

Những nét đẹp hoài cổ, dịu dàng của Hà Nội chỉ thoáng qua như những cơn gió heo may, thật mỏng manh và yếu đuối. Những nét tân tiến mà dở dang, hổ lốn, khập khiễng học đòi, đâu đâu cũng có thể bắt gặp như muốn xua đuổi cái dĩ vãng ngọt ngào đã qua. Để rồi đứng giữa cái “hiện đại” trọc phú và nét đẹp cổ điển chưa hết phôi pha ấy, tôi bỗng nhận ra một diện mạo Hà Nội ngổn ngang, khó gọi rõ tên và đầy trăn trở.

Thương lắm Hà Nội ơi! Còn đâu nữa những “phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu”. Những di tích lịch sử, văn hoá bị xà xẻn đến tận chân tường bờ gạch. Bây giờ nhà bê tông, mái sắt…thật vững chãi mà sao cứ thấy u hoài. Những ngôi nhà không hình thù, không bản sắc cứ thụt thò lố nhố như những khuôn mặt nửa cười nửa mếu, nửa khôn nửa dại.Còn chung cư, biệt thự xây xong lại “để mặc gió lung lay”. Để rồi những làng lúa làng hoa ngậm ngùi không biết đi đâu, về đâu.

Những cung đường ngày nào cũng “bội thực”, người, xe như đàn kiến chạy loạn. Mỗi lần ra khỏi nhà  lại thấy lo lo. Xe phóng như điên, như vào chỗ không  người, xe trèo qua rào chắn, xe bò qua lan can, tràn lên vỉa hè, xe này lấn đường của xe kia…

Bởi tại vì đâu khi đường cứ đột ngột thắt lại như chiếc cổ chai, còn ổ gà thời công nghiệp cứ to như ổ khủng long vậy. Đường tắc đã trở thành chuyện thường ngày ở mỗi con phố. Lại còn đất, cát, vật liệu ở đâu cứ tuôn xuống lòng  đường. Để bụi đất cứ mải miết  bay mù mịt. Vỉa hè mà chẳng thể dành cho người đi bộ…Sáng dẹp, chiều lại lấn chiếm.

Thương lắm Hà Nội ơi! Hình như khoảng cách giàu nghèo đang nới rộng thêm hay sao ấy? Có phải thế không mà biệt thự ngày càng nhiều, ô tô sang trọng ngày càng nhiều, nhà hàng, khách sạn cũng ngày càng nhiều trong khi “chợ người tìm việc” ở vỉa hè cũng ngày càng đông, đủ mọi lứa tuổi. Trẻ có, ương ương có, và già cũng có. Nhiều mái nhà lụp xụp, tạm bợ vẫn mọc lên bên cạnh những toà nhà chọc trời.

Những cơn mưa chưa kịp làm vơi đi nỗi khát làm không khí dịu mát đã vội vàng chất chứa những âu lo. Lụt lội, ô nhiễm, kẹt xe…Những cống thoát nước như những cụ già hen suyễn cứ ho sù sụ mỗi khi mưa về.

Rác ngập tràn trên phố. Rác tràn xuống lòng đường. Và như một thói quen, lòng đường trở thành nơi đổ rác. Những mảnh tường của những ngôi nhà sơn quét mịn màng lại nhằng nhịt những tờ rơi, quảng cáo nham nhở tầng tầng lớp lớp: Thuê gia sư, trộn bê- tông, hút bể phốt…

Thương lắm Hà Nội ơi! Có sông mà chẳng thể ra hóng mát, bởi vì sông còn đâu? Sông đã chết. Thương lắm Hà Nội ơi! Sao vẫn còn những cái tên nghe lạ lùng mà tôi bỗng thấy choáng ngợp, thấy hài hước và hổ thẹn khi một người khách nước ngoài hỏi: “Đến phố CAM DAI BAY đi đường nào”.

Còn  biết bao nhiêu cái thương nữa mà tôi không kịp nhớ hay không thể nhớ  hết mà viết ra đây. Bời vì đâu mà Hà Nội lại phải chịu những điều như vậy. Có phải tại tạo hoá đã sinh ra một Hà Nội vốn như thế ? Không! Vậy thì chỉ bởi chính chúng ta – những người đang hàng ngày sinh sống trên mảnh đất thương yêu này. Sự tham lam, ích kỉ, bon chen…của mỗi cá nhân; thói vô cảm, dốt nát và kém cỏi trong quản lý đã vô tình hay hữu ý làm tổn thương Hà Nội.

Gía như người ta biết trân trọng hơn những cái gì thuộc về lịch sử, về văn hoá thì nhiều ngôi đình, đền chùa, miếu mạo đâu đến nỗi phải kêu than. Gía như người ta biết quan tâm  gìn giữ thì những mái ngói cổ kính, những nếp nhà đơn sơ phố cổ cũng chẳng bị lãng quên giữa chốn thị thành hiện đại.

Và giá như người ta đừng chạy theo những cái gọi là “mốt” để rồi phá bỏ đi những cái thuộc về truyền thống gia đình, dòng họ, về qúa khứ. Để lớp lớp con cháu sau này còn biết đến, cái này… là do đôi tay tài hoa của cha ông làm ra, cái này…đã một thời làm nên nét văn hoá của Thăng Long- Hà Nội.

Gía như những nhà quản lý, hoạch định chính sách, những người xây dựng có trách nhiệm, có tâm và có tầm hơn. Để phố được là phố, nhà được mang dáng hình nhà thì phố và nhà đâu có dở khóc dở cười như vậy. Để rồi đường không phải là nơi “gà ấp trứng”, nơi trưng bầy chướng ngại vật, barie và “nghệ thuật sắp đặt”.

Để công trình khỏi bị “rút ruột”, dự án đừng bị “treo”, đường khỏi bị “nắn”…Có viển vông quá không, có bi quan quá không, khi thỉnh thoảng lại nghe thông tin về vị này tham ô, vị này nhận hối lộ, chỗ kia có tham nhũng, chỗ nọ có lãng phí…mà vụ sau cứ lớn hơn vụ trước.

Giá như những người giàu biết quan tâm đến những người nghèo hơn, những người nghèo biết chịu khó và nghị lực hơn, đừng ỉ lại, tự ti, hay buông xuôi thì chắc sẽ không có những cảnh “kẻ ăn không hết, người lần không ra” nữa. Và khi mỗi trái tim đều biết lên tiếng trước những xấu xa bạo ngược thì sẽ không còn cảnh những em bé bị bạo hành nữa. Để Hà Nội mãi là một thành phố vì hoà bình như chúng ta vốn tự hào.

Giá như mỗi người dân có ý thức hơn, tuân thủ pháp luật khi tham gia giao thông, thì đâu đến nỗi phải chịu cảnh tắc đường, tai nạn chết người. Người ta sống cả đời chứ có phải sống chỉ vài giây, vài phút. Nhưng ai cũng muốn đi trước, ai cũng muốn hơn, ai cũng muốn thắng, ai cũng muốn “khẳng định” cái tôi của mình trên đường phố, mà bất chấp cả luật lệ.

Giá như người ta đừng tham lam, ích kỉ có nhà mặt phố nhưng vẫn cố chiếm nốt cái vỉa hè nhỏ nhoi kia. Để hè phố là hè phố, cho người đi bộ thong dong, chứ không phải là nơi bày biện hàng quán, nơi chất rác thải, đổ vật liệu xây dựng. Để những cơn mưa cứ mãi là  những kỉ niệm đẹp chứ không phải là nỗi lo âu, ngao ngán.

Giá như mỗi nhà có ý thức hơn, đừng đem rác đổ ra lòng đường. Mỗi người có ý thức vệ sinh chung, bỏ rác vào thùng có phải phố xá sẽ đẹp hơn không. Điều này có khó lắm không khi việc làm đó không chỉ là hành vi cần có của con người văn minh, văn hoá, mà còn là để  bảo vệ môi trường sống của chúng ta.

Rồi lại ước giá như đừng phải đi cả vài cây số tìm mỏi mắt mới thấy một thùng rác, có phải tốt hơn không. Và giá như những gánh hàng rong cứ giữ mãi cái nét thơ mộng như nó đã từng có, đừng vội vã bước đi để lại toàn là rác(!)

Rồi giá như những ai đó đừng mải mê với những dự án sân gôn, biệt thự mà hãy xem đã có nhà máy xử lý nước thải trong thành phố hay chưa? Hay nước bẩn, nước thải cứ ào ạt đổ ra  sông. Để rồi sông không còn là sông mà trở thành “kẻ huỷ diệt” sự sống vậy. Và những “nỗi buồn không ai giống ai” được giải quyết kịp thời khi nhà vệ sinh công cộng không còn thiếu và bẩn, thì làm gì còn những tên phố trong những câu chuyện “tiếu lâm” hàng ngày  có cái tên là “CAM DAI BAY”.

Giá như sông Tô Lịch trong xanh trở lại.

Giá như đường lại thông, hè lại thoáng.

Giá như có những tuyến đường chỉ dành riêng cho người đi bộ trong thành phố. Giá như…

Chỉ một điều “Giá như” thôi  thành hiện thực, có lẽ Hà Nội của chúng ta sẽ đẹp hơn rất nhiều.

Thương lắm Hà Nội ơi!

  • Đình Quang (Theo tuanvietnam.net)

Thảm họa không mấy khi đổ ập xuống đầu..

Vương Trí Nhàn

“ Nắng, nắng rất dữ, cái nắng cháy da làm mất đi vẻ đẹp riêng của những con người xứ lạnh.”
“Bình minh không còn màn sương phảng phất bay qua cành cây ngọn cỏ.”
“Những dải hoa hồng hoang sơ, đẹp một vẻ đẹp kiêu sa, trước kia bốn mùa khoe sắc trên nhiều con đường ngõ xóm, nay không còn nữa.”
“ Những cây thông cổ thụ bị dọn sạch.”
“Trong các mảnh vườn riêng của từng gia đình ở đây, các loại sâu bọ kỳ lạ xuất hiện. ”
“ Nhiều người vào đây từ sau 1975 bắt đầu nhớ lại Đà Lạt ngày họ mới vào, nhớ tới Đà Lạt ngày xưa mà họ mơ ước. ”

Đà Lạt sẽ hết thông?

Đà Lạt sẽ hết thông?


(Trên đây là sự thay đổi môi trường Đà Lạt được bạn đọc Tuổi trẻ viết trong số báo ra 7-3 -07)
Sự thay đổi ở đây vậy là gây ấn tượng đậm và thật đáng lo ngại: đó là những biến động ở tận bề sâu của môi sinh, biến đổi về mặt khí hậu.

Đọc lên ai mà chẳng thấy đau lòng.

So với Đà Lạt, tình hình thay đổi các thành phố trong cả nước chưa nguy hiểm bằng. Có vẻ tình trạng ô nhiễm và sự biến đổi cảnh quan ở đấy là chấp nhận được. Ta dễ bỏ qua.

Nhưng chúng ta đã nhầm.

Đọc một tài liệu nghiên cứu về môi trường, tôi thấy một nhà khoa học bảo rằng cái đáng sợ nhất là những sự cố trường diễn, tức là những thay đổi theo hướng thoái hóa, tác động rất lớn, song rỉ rả mỗi ngày một chút, nên dễ lọt lưới, và khi nghĩ ra thì đã muộn.

Ví dụ như ở Hà Nội. Hà Nội rãnh nước đen ngòm chảy bên lề đường phố cổ và chuột chết vứt cho xe kẹp. Hà Nội nhà xây cái cao cái thấp, cái lai tàu cái lai tây, lô nhô loạn xị và cây xanh bị triệt hại để lấy chỗ bán hàng. Hà Nội nắng hanh đường quẩn đất bụi. Hà Nội những tầng nước ngầm trong lòng đất bị tàn phá, một số giếng đào lên nước không dùng được. Hà Nội người ném rác hàng ngày xuống sông Hồng. Hà Nội không còn vỉa hè và thanh niên không biết thế nào là niềm vui đi bộ.

Chỉ cần so với Hà Nội 1954, hoặc Hà Nội trước 1975 thôi thì đã có bao điều tốt đẹp mất đi mà nếu thành tâm yêu Hà Nội người ta phải lấy làm tiếc. Và lo lắng nữa.

Báo chí gần đây có nhiều bài đả động đến những biến động nho nhỏ . Hoặc là rầy nâu tấn công Cao Lãnh, thị xã của tỉnh Đồng Tháp. “Rầy bay đầy đường như trấu, rầy bu đen kín các bức tường. Rầy đi thành từng đám như một lớp sương, người đi đường không thể đi được nên tấp vào quán để trốn rầy”. Hoặc là muỗi ở huyện Bình Thạnh TP Hồ Chí Minh “cứ khi trời sập tối là muỗi dày ken đặc, 10 phút quơ được một muỗng canh muỗi” ( Nông thôn ngày nay 19-3-07)

Đó chính là dấu hiệu của những sự cố trường diễn. Sự thay đổi của khí hậu – như ta thấy phần nào ở Đà Lạt –chính là kết quả của những đổi thay ngấm ngầm như vậy. Nhìn rộng ra, người ta còn nói rằng tình hình ô nhiễm khói bụi ở khu vực Thái Bình Dương khiến cho nơi đây ngày càng xuất hiện nhiều hơn những cơn bão lớn…

Từ chuyện môi trường cây cối sâu bọ, tôi còn nghĩ đến những biến động sâu xa ở con người. Tình trạng trường lớp tồi tàn, bàn ghế không hợp lứa tuổi khiến cho tỉ lệ học sinh cận thị ngày mỗi cao. Xe máy chen chúc trên đường, phố xá ồn ào, khiến con người giờ đây “ăn sóng nói gió “ hơn bao giờ hết. Những khó khăn trong cuộc sống gậm nhấm mỗi ngày một ít, sự bươn trái kéo dài, giờ đây chả thấy ai nhường ai, nghĩ mãi về người quen không biết ai đáng gọi là dịu dàng hiền hậu.

Thậm chí nét mặt con người nữa.

Những khi đang đi gặp phải đèn đỏ, tôi nhìn chung quanh, sao thấy mặt mũi người nào trên đường cũng căng thẳng và đầy chất sát phạt. Tham vọng ghê gớm. Khao khát khẳng định. Ham hố sống, hưởng thụ … Tôi chưa tìm ra được chữ nghĩa cho chính xác, nhưng hình như có tất cả những cái đó trên nhiều khuôn mặt tôi gặp hàng ngày, quen cũng như lạ.

Lại nhớ những con người của cái thời tiền chiến đọc được trong những truyện ngắn Thạch Lam,Thanh Tịnh, hoặc hiện lên trong tranh Nguyễn Phan Chánh. Lại nhớ những bức ảnh chân dung tập thể bày ở các bảo tàng hoặc trong một số sưu tầm ảnh đây đó. Có phải là chúng ta đã thay đổi đến khó ngờ? Thời gian mang lại cho con người rất nhiều nhưng cũng lấy đi rất nhiều. Không thể luyến tiếc, nhưng phải nhở rằng nhiều cái tốt đẹp đã bị đánh mất.

Theo Blog Vương Trí Nhàn

Sâm cầm sẽ bay về.

Nguyễn Đăng Tấn

Hà Nội bây giờ bắt đầu đã vào đông. Cái lạnh se se làm lòng người nôn nao. Một cảm giác lành lạnh, trống trải. Tôi lại tìm về nơi ngày ấy. Mặt hồ mênh mang chỉ có gió là gió. Ánh chiều như dát bạc xuống mặt hồ. Tôi cứ thầm ước ao giá lúc này chim quí sẽ bay về.
Có thời gian độ vài năm tôi ở khu biệt thự Hồ Tây. Nói là ở cho oai chứ khu này dành riêng cho quan chức không phải ai cũng được đến.

 

Mô tả ảnh.

 

Sâm cầm (Ảnh: Tư liệu)

Chả là khi cơ quan đang đóng tại một biệt thự ở phố Phan Đình Phùng thì một vị lãnh đạo được phân làm nơi ở, thế là cơ quan chuyển lên khu biệt thự này. Anh em nói vui: mấy khi được đi nghỉ dưỡng.

Quả là những nhà kiến trúc cảnh quan Hà Nội có con mắt xanh. Họ chọn nơi này làm chỗ nghỉ dưỡng thật là đắc địa. Ở ngay Hà Nội lại có một nơi vừa như rừng vừa như biển. Giống rừng bởi ở đây tràn ngập cây xanh, tràn ngập cỏ cây hoa lá, mùi hương hoa lúc nào cũng phảng phất trong sự tĩnh lặng của không gian. Như biển bởi sóng nước Hồ Tây luôn xôn xao. Gió Hồ Tây luôn mát rượi.

Những lúc vừa làm xong công việc, tôi lại tự thưởng cho mình những phút dạo bên hồ. Mặt trời chiều như đang tiếc nuối dùng dằng chưa muốn lặn xuống phía bên kia bờ. Bầu trời như một bức tranh ngũ sắc với những đám mây màu vàng óng, đỏ rực in xuống mặt hồ đang nhấp nhô sóng lượn.

Dạo ấy cơ quan tôi mới nhận về một cô gái người của làng Quảng Bá, Nghi Tàm. Một cô gái xinh xắn của những vườn đào vườn quất, của những “bến trúc lao xao tự thưở nào”. Tôi đã được nghe em kể về những huyền thoại Tây Hồ. Chuyện nào em kể cũng thích thú.
Chúng tôi thường có những buổi chiều ngồi ngắm hoàng hôn đang dần buông xuống mặt hồ. Chiều đang tím thẫm ánh xuống mặt hồ, màu sắc đẹp như những chùm violet lả tả rơi xuống mặt hồ trong xôn xao con sóng. Những lúc như thế em lại kể về những huyền thoại Tây Hồ. Những trâu vàng phương Bắc nghe tiếng chuông liền vùng đi tìm mẹ, đến đây quần thảo làm đất sụt thành hồ khiến hồ có tên là Kim Ngưu (Trâu Vàng). Cáo chín đuôi ẩn nấp làm hại dân, Long Quân dâng nước lên phá hang cáo, hang sập thành ra hồ gọi là hồ Xác Cáo. Hồ trong sáng như gương, sóng vỗ dạt dào nên gọi là Lãng Bạc. Hồ cong cong như vầng trăng khuyết nên gọi là hồ Nga My. Hồ được gọi là Dâm Đàm (đầm Mù Sương) vì hồ luôn phủ một lớp sương mờ mờ huyền ảo. Hồ ở phía tây kinh thành Thăng Long, nên được gọi là Hồ Tây…

Một hôm đang ngồi bên hồ cùng em sau ngày làm việc thì bỗng một bầy chim sà xuống hồ. Tôi hơi ngạc nhiên vì trông giống như chim quốc ở quê tôi. Em có biết chim này là gì không? “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc” đấy. Tôi có vẻ thành thạo. Em liền cười: Không, đây là sâm cầm, đặc sản Hồ Tây đấy. Sâm cầm tôi đã nghe nhiều rồi. Bài hát “Nhớ mùa thu Hà Nội” của Trịnh Công Sơn cũng có một đoạn viết về loài chim này. Kỳ lạ thật, từ tên gọi đến quê hương cứ như là huyền thoại. Em kể rằng ở tận xứ Kim chi xa xôi, dân một làng nọ có dạo bị một loại bệnh dịch chết dần chết mòn. Tình cờ nhờ bắt được chim lạ ăn một loại rễ cây trong núi cao mà họ đã trở nên khỏe mạnh. Loài rễ ấy sau này trở thành thứ Sâm nổi tiếng xứ Hàn. Không biết có phải là loài chim ăn sâm ở tận xứ Kim chi hay không mà thành tên gọi.

Còn chuyện em kể các vua triều Nguyễn ra lệnh cho quan trấn thủ Hà Nội buộc các làng bên Hồ Tây hàng năm phải tiến chim sâm cầm lên vua để làm thức thuốc tăng cường sinh lực làm tôi khó tin. Nhưng em nói làng em còn ghi trong Hương ước hẳn hoi. Hương ước chép rằng “Hàng năm, mỗi giáp phải nộp năm con sâm cầm. Nhà nào không nộp là trốn lệ vua, thiếu một chim, phạt vạ bạc mười nén, dây dưa thì lý bị trưởng lôi lên phủ đánh một trăm roi!”. Và chả biết có quí như sâm hay không, tăng lực đến mức nào nhưng chuyện mỗi năm dân làng quanh Hồ Tây phải nộp là có thật.

Mô tả ảnh.
Ảnh (tư liệu)

Sâm cầm đi vào câu ca của người Hà Nội như là những đặc sản: Dưa La, húng Láng, ngổ Đầm; cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây…

Ở khu biệt thự Hồ Tây mấy năm và cứ mỗi độ đông về, tôi lại nôn nao nhớ đến những bầy sâm cầm. Có lần bầy chim còn sà cả xuống sân để ăn những trái hồng xiêm rụng. Những lúc đó thường là rét quá chim không ngụp lặn dưới hồ để mò thức ăn. Tôi định mượn súng săn, để hạ mấy con định thưởng thức hương vị Tây Hồ, nhưng em liền ngăn lại, làm thế thì chim sẽ bay đi không trở lại. Em bảo bây giờ rất buồn chim về thưa hơn trước rồi. Thức ăn ngày càng hiếm, bờ cũng đã bê tông hóa, không có nơi để chim trú ngụ, xung quanh hồ nhiều khu nhà đã mọc lên sừng sững. Có nhiều người chỉ chuyên rình rập để săn bắt chim. Ngay gần hồ có cả những quán nhậu trong đó có đặc sản sâm cầm. Em nói vậy nhưng tôi chưa từng gặp.

Rồi em băn khoăn sao Hà Nội không có qui định gì để bảo vệ loài chim quí và độc đáo này. Giả sử Hồ Tây không có sâm cầm bay về thì sẽ ra sao, giống như Hồ Gươm nếu sẽ không còn cụ rùa nữa?

Tôi cũng đã từng gặp trên nhiều đoạn đường như Hoàng Hoa Thám, Lê Duẩn (bên công viên Thống Nhất) ở giữa Thủ đô có những người thường đem bán các loài chim. Không biết họ bắt ở đâu mà nhiều đến thế. Chim sẻ, chim ngói thì là bình thường. Có loại chim tôi cũng chịu không biết là chim gì. Chắc là loài chim quí. Có những chú chim đã vặt trụi lông không nhận ra được chim gì nữa. Chúng co ro trước gió khi thấy người lạ đến và sợ hãi, rúc vào chân người bán như một sự van xin trông mà tội nghiệp. Các bạn đã gặp cảnh này chưa, những chú chim bị vặt lông ấy.

Tôi đã đọc được trên một diễn đàn, một bạn tên Phương đã viết thế này: Họ không cảm nhận được sự đau đớn của con vật nhỏ bé khi vặt lông sống rồi để đứng co ro chờ người mua thịt..chẳng lẽ không còn cách hành xử nào mang một chút văn minh tối thiểu đối với con chim sao? thử hỏi nếu những người đó bị vặt tóc sống… vặt trụi cho đến sợi cuối cùng thì họ có chịu được những cơn đau đớn hay không mà lại làm thế với những con vật bé nhỏ đó ..con thú có khát máu thì bao giờ nó cũng giết rồi mới ăn

Nhà văn Nguyễn Quang Thiều có lý khi viết rằng: Nếu con người biết yêu một con chim thì sẽ biết yêu một con người. Đấy là một chân lý đơn giản mà ai cũng biết, dù bây giờ quá ít người muốn nghe.

Mô tả ảnh.
Chiều Hồ Tây

Sâm cầm chắc không nhiều nên không có ai đem bán như thế. Giả sử có bán cũng chỉ để những người nhiều tiền lắm của chứ người dân lấy đâu ra tiền để mua loài chim quí này để mà thưởng thức. Tôi đã kịp dừng lại cái ý nghĩ điên rồ đem súng ra bắn những chú chim vô tội kia trước sự can ngăn của một cô gái làng hoa Nghi Tàm. Chắc em biết rất rõ giá trị của thứ chim này nhưng cái cao hơn là sự nghĩ suy về một danh thắng.

Hồ Tây đã trở thành huyền thoại. Sâm cầm cũng  thành huyền thoại của Hồ Tây. Bây giờ tôi không còn được ở khu biệt thực đó nữa, cô gái ấy cũng đã theo chồng đi xa. Nhưng cứ đến gần ngày đầu đông tôi lại nôn nao nhớ về loài chim ấy. Cái cảm giác hạnh phúc sau giờ làm việc được thả bộ trên những con đường quanh hồ hay ngồi bên cô gái của làng Nghi Tàm mà đón đợi sâm cầm bay về để được chiêm ngưỡng đàn chim “vỗ cánh mặt trời” sao mà da diết.

Hà Nội bây giờ bắt đầu đã vào đông. Cái lạnh se se làm lòng người nôn nao. Một cảm giác lành lạnh, trống trải. Tôi lại tìm về nơi ngày ấy. Mặt hồ mênh mang chỉ có gió là gió. Ánh chiều như dát bạc xuống mặt hồ. Tôi cứ thầm ước ao giá lúc này chim quí sẽ bay về.

(VNN)

haiz21

Hà Nội trong những giấc mơ (2)

Giấc mơ thứ hai

Phạm Thị Bích Thủy

Hà Nội trong mơ của tôi sẽ là nơi có nhiều thùng rác công cộng hơn. Tuy là thùng rác nhưng cũng thật sạch thật thân thiện để ta không ngại tới gần mà bỏ rác.

Hà Nội trong mơ của tôi là một Hà Nội mà ở đó thanh niên, sinh viên không xéo lên các bãi cỏ đẹp đẽ trên đường Nguyễn Chí Thanh, Trần Duy Hưng để làm sinh nhật, để đón trung thu và rồi khi “tiệc tàn” để lại một bãi rác “hiện đại” với vô vàn bao nylon, vỏ chai nước, vỏ lon bia, bao cao su và… cả kim tiêm.

Hà Nội trong mơ của tôi có những nhà lãnh đạo thật lòng yêu HN mà tiết kiệm “tiền dân”: Tôi cứ ước một điều “giá như thay vì liên tục đào vỉa hè ở những tuyến phố chính, hết thay gạch con sâu lại đổi gạch lá dừa mỗi năm một vài lần. Các nhà quản lý đô thị của chúng ta, UBND Thành Phố dùng kinh phí đó để lát thêm một vài đoạn phố sâu, phố nghèo khác để dân bớt phải lội bùn!”. Thay gạch đẹp mà không giữ sạch thì cái xấu, cái bẩn, cái nhếch nhác lại càng tương phản rõ hơn. Chúng ta còn nghèo lắm, tôi chỉ ước mỗi năm thành phố được lát thêm một phần vỉa hè mới thì “kiến tha lâu cũng đầy tổ”, chúng ta sẽ có Hà Nội sạch, Hà Nội không bụi.

Hà Nội trong mơ ước của tôi là một Hà Nội thật giản dị, tiết kiệm. Đó là Hà Nội không có các “cô tú, cậu tú” mua một lọ nước rửa tay có giá bằng nhiều tạ thóc của bà con nông dân, không có quan chức xây nhà có toilet trị giá bằng nhiều căn nhà của thường dân!

Hà Nội trong mơ ước của tôi là một Hà Nội hồn nhiên nhưng sâu sắc với vận mệnh của thành phố mình, đất nước mình. Hà Nội trong mơ của tôi là nơi con trẻ không phải gò lưng cõng sách tới trường và đầu tắt mặt tối làm bài của lớp trên để được công nhận là học sinh giỏi vì làm được bài chưa đuợc dạy ở phần chương trình của khối mình học.

Hà Nội trong mơ ước của tôi là Hà Nội với toàn người ngượng ngùng khi vứt rác, ngượng ngùng khi đường tắc leo lên cỏ, lên vỉa hè mà chạy. Hà Nội trong mơ của tôi là Hà Nội với những con người biết làm đẹp cho thành phố từ mỗi việc làm ngày thường: Nếu ta làm nghề xe ôm ta không bắt chẹt khách, nếu ta là người buôn thúng bán bưng ta ngồi vào đúng chỗ của ta, nếu ta là cô giáo ta hãy nói thẳng, nói thật với Bộ Giáo dục và Đào tạo “sách cải cách mới quá nhiều điều bất cập và phi thực tế đối với con trẻ, nếu ta là sinh viên sắp ra trường ta hãy chuẩn bị cho mình hành trang quan trọng nhất là “nghe tích cực và thực hành mọi thứ” trước khi mơ uớc làm sếp, nếu ta là công nhân môi trường đô thị ta hãy tra dầu vào tất cả các xe đẩy cho đêm khuya và sáng sớm tiếng kêu cót két không đánh thức cả phố dậy, nếu ta là quan chức ta hãy cố gắng mỗi ngày một việc thực làm cho dân chứ không ký giấy “chuyển cấp trên giải quyết”, nếu ta là người yêu HN thực sự ta phải nhận ra một điều thực tế rằng: Hà Nội của chúng ta còn quá nghèo, quá lộn xộn mà phần đông chúng ta, mỗi ngày đang “vô tình” đóng góp vào cái nghèo, cái lạc hậu đó bằng cách vứt rác ngay dưới chân bàn ăn của mình, bằng cách chê mà không kiếm cách cải thiện bằng những hành động cụ thể của mình mà lại cứ mơ về “Hà Nội trong mơ“.

(VNN)

haiz21

Hà Nội trong những giấc mơ

Giấc mơ thứ nhất

Kiều Phương Nam

Những mái ngói lô xô phố cũ xưa kia có thể đã từng đẹp lắm, đi vào tranh vẽ, đi vào thi ca để rồi làm nên những tác phẩm bất hủ, làm nên một cái tên “Phố Phái”, nhưng ngày nay nhìn chúng mà đôi lúc chợt buồn. Sự lô xô không còn là nhịp điệu của cuộc sống ồn ào, náo nhiệt mà cũng rất mực kín đáo của người Hà thành nữa rồi, những mái ngói rêu phong còn sót lại nay trông xập xệ và luôn bị khuất bóng bởi những tầng nhà bê tông khung kính, một sự lô xô của hỗn độn. Người ta phải tốn rất nhiều giấy mực, tâm huyết, thời gian và tiền bạc để nói, viết, bàn thảo và níu giữ cái chất “cổ” của 36 phố phường nhưng xem ra chẳng mấy kết quả.

Phố Phái

Phố Phái

Những hội thảo về bảo tồn tranh Hàng Trống, những thí nghiệm về môi trường nước và rùa hồ Hồ Gươm, những dự án bảo tồn làng đào Nhật Tân…, và đã có cả những thứ đã thành hiện thực như phố ẩm thực, phố đi bộ…, nhưng tất cả là chưa đủ, chưa thỏa mãn sự mong đợi của người dân thủ đô và cả nước.

Hơn 20 năm đổi mới, mở cửa, đời sống đã có nhiều khởi sắc, nhiều toà nhà cao tầng mọc lên với những văn phòng đại diện, những nhà hàng, khách sạn. Và khắp Hà Nội và ven đô, sao mà nhiều quán karaoke, gội đầu, nhà nghỉ đến vậy? Nhưng hình như trường học và bệnh viện thì vẫn không tăng lên là bao trong khi dân số mỗi lúc một đông! Vẫn Bạch Mai, Việt Đức, Xanh Pôn… đông nghẹt người, chen chúc nhau trong bệnh hoạn và lo toan, héo hắt đợi chờ..

Vẫn còn đó những xóm liều, những xóm lao động nghèo với những công việc bấp bênh, chưa ráo mồ hôi đã hết tiền nên lúc nào cũng phải lăn như hòn đất mà chưa đủ ăn. Vẫn còn đó những bất công, người ăn không hết kẻ lần không ra bởi tệ tham nhũng, cửa quyền… Vẫn còn đó những toà chung cư cao tầng dù phải mua với cái giá chênh lệch cả vài trăm triệu đồng mà mới ở vài hôm đã thấy xuống cấp. Vẫn còn đó những đoạn đường hôm qua mới lấp, nay đã lại… đào, bụi mù ô nhiễm. Vẫn còn đó những lời than, tiếng trách…

Nhưng tôi yêu Hà Nội lắm! Hà Nội trong tôi đẹp lắm. Đó là nơi tôi sinh ra và lớn lên. Tôi không biết hình dung Hà Nội sẽ ra sao khi đẹp hơn. Nhưng ai cũng hiểu mỗi thời đại, mỗi thế hệ có những thành tựu riêng, sở dĩ chúng ta vẫn phải day dứt, tiếc nuối là bởi vì những gì mà chúng ta làm được hôm nay vẫn chưa đáp ứng được với sự mong đợi của chính mình. Hãy làm ngay một điều gì đó bạn ơi, dù nhỏ, tỷ như không xả rác ra đường nữa, Hãy bắt đầu ngay hôm nay để ngày mai không phải nuối tiếc!

Thế, từng tý, từng tý một và xin đừng bao giờ nản chí mà bỏ cuộc. Chắc chắn sẽ có một ngày không xa chúng ta có thể cùng tự hào mà hét to lên với toàn thế giới rằng: Hà Nội của chúng ta thật hoàn mỹ! Và chính tôi đã góp một phần nhỏ bé để làm nên điều đó.

(VNN)

haiz2

Có ai đi giữa lòng Hà Thành, chợt muốn hét lên kêu cứu?

Hà-nội Xanh thân mến,


Ba tôi người Huế, mẹ là con gái Hà-nội. Tôi sanh ra ở cố đô Huế nhưng lớn lên ở Sài-thành, giữa hai khoảng giai đoạn ấy là những mảnh ký ức mỏng tang của những năm đầu đời, khi nhà tôi ra Hà-nội ở (ắt để mẹ tôi ở gần bà ngoại, cũng vì công việc của ông thân tôi khi ấy). Những mảnh ghép mong manh mập mờ mùi hoa nhài nhà ngoại tôi ở Lý Thường Kiệt, có cái cầu thang gỗ mà tôi mỗi lần nhìn thấy lại rất sợ, vì thấy nó to to, tối tối…ang ác, có màu xanh của balcon sắt uốn như tấm ren tinh xảo trên mấy căn nhà thời Pháp.

Tôi mang máng nhớ những khi ba tôi cõng tôi lên vai tản bộ ra cái mà tôi gọi là “công viên con cóc” (ắt hẳn nhà tôi xưa phải gần đây lắm do trong kí ức của tôi, ba đã cõng tôi đi bộ suốt ra đến công viên). Trong những nhập nhằng hồi tưởng ấy, là đoạn đê đường Thanh Niên mà với một đứa trẻ như tôi khi ấy, là cả một cái đồi cỏ thoai thoải thênh thang, một bên là cỏ xanh và gió se se, phía bên kia là dãy tường ố vàng của dãy nhà to trông buồn, già và u uất.

Hà-nội của tôi còn là bát bún ốc nước trong vị thanh thanh nhẹ nhõm, quả cả muối đến rúm ró quăn queo mà đậm đà đến tận chân tóc, cốc đỗ đen không có cái ngọt hào sảng đến dư dật của chè miền Nam, mà thanh như tiếng, như người, như trời Hà-nội.


Về sau, khi lên concept cho bộ hình Hanoi Daily và viết bài thơ Nostalgia (lấy làm thớ lợ lắm cách bày tựa nạc mỡ của mình, nhưng tại thói quen chọn ngay từ đầu tiên đến trong đầu làm tựa, về sau được tòa báo sửa lại thành Chị Tôi, nghe giống tựa bài ca, nhưng thôi kệ!), tôi vẫn thắc thỏm nhắc nhớ lại hết những hình ảnh quá vãng ấy.
Ba tuổi, tôi lớn lên làm con gái Sài-gòn nhưng có cái biệt tài tùy người đối diện mà dùng giọng Bắc, giọng Nam bộ hay giọng Huế, cái nào cũng lơ lớ, lai lai, nhưng được cái về chốn nào nơi 3 thành phố lớn cũng dễ bề hòa hợp mà nhập gia.
Ấy nhưng lần nào cũng vậy, ra Bắc công tác cũng chỉ được dăm ba hôm, khi về vẫn nắc nỏm thòm thèm bởi nỗi chưa được ngụp lặn cho thỏa trong cái không khí vừa quen vừa lạ ấy, chưa có buổi rảnh rang mà tìm ghé qua coi thử chốn xưa liệu còn nhắc nhớ gì không những mảnh mỏng tang kí ức tôi ép kỹ trong tiềm thức thiếu thời. Hà-nội vẫn “sống” quá, trôi nhanh và ồn ào, không dừng lại cho tôi được ngắm kỹ đặng mỏi mòn tìm nét thân quen. Vậy nên, mỗi bận về, lòng lại càng đòi đoạn cơn hoài cố, nhớ lại càng nhớ thêm.
Rồi mãi cho đến về sau, được vời về làm cho một tạp chí tại Hà-nội, nhờ cái duyên may được ban biên tập cưng chiều trọng dụng, lại nhiều việc cậy nhờ nên có lắm dịp được lưu lại khá lâu, thậm chí có lần còn được mời cân nhắc chuyện chuyển hẳn ra Bắc để tiện cho công việc.


Nhớ lần chụp bộ ảnh Hanoi Daily, tôi tham lam với ước nguyện chả gì hơn là hối hả tom góp lại những nét còn nét mất, cậy nhờ kỹ thuật nhiếp ảnh tân kỳ, hòng mong lưu giữ lại cho kịp, kẻo nuối tiếc khi về sau mai một.
Ngoài chuyện đã kể ở dòng tâm sự lần trước với Hà-nội Xanh, một kỷ niệm không quên của chuyến làm ảnh lần ấy là chuyện về chiếc áo cánh. Thương tiếc cái duyên nền nã, kín đáo của chiếc áo cánh bằng phin nõn mà mẹ tôi kể lại rằng bà ngoại vẫn khâu tay cho các con gái. Vậy mà giữa lòng Hà-nội, tôi mất trắng một ngày ròng mải miết tìm nơi mua chiếc áo cánh phin nõn. Đến được địa chỉ có người tốt bụng mách cho thì đã tự khi nào là cửa tiệm bán đồ chơi Tàu cho nít nhỏ. Cùng đường, hỏi liều bà chủ nhà, nghe từ “áo cánh”, bà “scan” tôi từ đầu dưới chân như nhìn một con nhỏ hoặc là “ở bển mới về, trển mới xuống” hay “ở dưới mới lên”, hoặc tệ hơn là “ở trỏng (nhà thương) mới ra”. Tôi cảm ơn (?) và đi ra sau lời mắng “Ăn mặc như dân Sài-gòn mà hỏi lạ thế?”
Chuyện thứ hai là việc quyết định về kiểu tóc. Tôi khăng khăng muốn được nhìn lại cái gáy cong, cái khóe tai trang nhã sau nét tóc vấn trần kiểu cách ngày xưa, nhưng không một hair stylist nào của Hà-nội làm tôi hài lòng. Chỉ đến buổi sáng cuối cùng, may mắn cậy được người chuyên hóa trang của hãng phim đến làm tóc cho cô minh tinh Minh-Châu, tôi đành phải ngậm ngùi chấp nhận.


Dự tính chuyển đổi phương án tóc sang lối bánh bẻ. Lại hàng chục cú điện thoại, những chuyến đi tận mọi ngõ ngách Hà-thành, được cái được tòa soạn cưng chiều nên tôi huy động mọi anh em trong tòa soạn cùng tham gia vào cuộc “truy tìm hiện vật” rầm rộ và quy mô. Nhưng mọi cố gắng đều đã không tìm ra được cho tôi một chiếc cặp ba lá. Chỉ một chiếc cặp ba lá.


Than ôi Tràng-an thanh tú trong tôi, giờ phải chăng chỉ còn là hiện vật, là lớp hóa trang giả hiệu vụng về, là giả cách ngô nghê mất gốc?


Tôi ra về với một nỗi sợ, mỏng tang như những ký ức thiếu thời của mình vậy, rằng đã có một điều gì đó, nhỏ thôi, đã mất đi trước khi tôi kịp sờ tay vào, được ướm thử lên người cái cảm giác “hè thì mát, đông lại ấm áp” như mẹ tôi từng kể. Một điều gì đó, nhỏ thôi, như bàn tay bà tôi thoăn thoắt vấn lượt tóc nuột nà quanh đầu, nửa dung dị nửa trang đài. Hay thậm chí chỉ mấy lá nhôm lá thép kẹp lấy mái tóc đàn bà con gái cho chân phương kẻ chỉ…

Tôi muộn rồi chăng?

Vồ vập ôm vào lòng, những muốn biến thành của riêng để ấp yêu bảo vệ, tôi đặt để vào đấy hình ảnh vườn hoa con cóc, cái mũ cối bộ đội, nét tóc bánh bẻ, vấn trần duyên dáng ngày xưa, cái phối màu ố của tường vàng và xanh xỉn của balcon sắt, cái mùi giấy của hiệu sách cũ ọp ẹp thiếu sáng, cả cái huy hoàng quá lứa của một Hà-nội đang mất dần, loãng dần, ô tạp dần. Tôi thiết tha níu giữ trong ngậm ngùi thực tế của thời gian và thời cuộc.

Có ai đi giữa lòng kinh đô văn hiến, ngậm ngùi nhìn một tòa lầu chết trong một nhan sắc đã từng hoàng kim nay hoang phế đến rợn người?

Có ai đi giữa lòng Hà-thành, đã bao giờ chợt muốn thắp một nén nhang cho một ngôi cổ tự?

Có ai đi giữa lòng Hà-thành, chợt muốn hét lên kêu cứu?


Hoa Nhài Đen