Nhà ống và xe gắn máy: diện mạo hay bản sắc?

Theo Bauxitevietnam

KTS. Võ Thành Lân

Nhà ống và xe gắn máy đã thực sự trở thành biểu tượng quốc gia của Việt Nam. Ảnh: Lê Toàn.

Câu hỏi của KTS Võ Thành Lân là cả một trăn trở của một người có kiến thức chuyên môn, vận dụng nó để nhìn vào một thực trạng xã hội.

Câu trả lời dễ hay khó? Nếu nhớ lại, khi được chất vấn về vấn đề kiểm soát các công ty nước ngoài thuê đất của ta dài hạn, một lãnh đạo cấp tỉnh hồn nhiên đáp: “50 năm nữa, ai làm thì người đó kiểm soát”, thì có lẽ không phải bận tâm tốn sức nhiều đi tìm cội nguồn sâu xa, liệu hiện tượng nhà ống và xe máy chen chúc là bản sắc hay là diện mạo của đô thị chúng ta hiện nay.

Mấy chục năm trước, khi Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô-viết còn tồn tại, dưới tên thổ ngữ viết tắt là CCCP, ấy thế mà từ thời ấy, dân ta đã đọc thành một câu vè hẳn hoi: “Các con cứ phá / Các cháu cứ phá / Của còn cứ phá / Còn chi cho phá!” Và thế là mấy chục năm trôi qua, ruộng hóa thành phố, phố bỗng thành sông…

Dẫu sao, tập tính manh mún, tùy tiện, vật vạ của nhà nông – một tập tính cố hữu lâu đời của người dân ta đã đóng một vai trò không nhỏ trong nếp nghĩ của người dân và giai cấp lãnh đạo. Khi một đất nước từ “chân dép lốp mà bay vào vũ trụ” (thơ Tố Hữu), thì chẳng kịp có gì làm hành trang, ngoài những thứ ấy, cũng là dễ hiểu!

Điều đáng ngại là những thói quen cổ hủ thì trở thành tập tính, còn bản sắc lại bị bào mòn, một ngày nào đó tập tính soán ngôi, bản lai diện mục sẽ khó còn nhìn ra.  Có lẽ ngày đó không đâu xa, mà nó đang lẩn quất quanh ta. Hãy nhìn vào những dự án “ma”- những dự án kiểu “Novotel-Hanoi” bỗng dưng “chễm chệ” giữa lòng công viên Thủ đô…

Nhưng chúng ta cũng có quyền hy vọng, bản sắc dân tộc Việt Nam vốn là một thứ vàng ròng đã được hun đúc qua nhiều thế hệ, chẳng thể nào bị hòa tan, dẫu rằng phải kinh qua không ít thăng trầm như đang thấy.

Câu hỏi của KTS Võ Thành Lân tưởng rằng dễ trả lời nhưng hóa ra không dễ chút nào.

Bauxite Việt Nam

(TBKTSG) – Bộ mặt đô thị là hình ảnh trực tiếp nhất thể hiện khía cạnh văn hóa xã hội của một đất nước. Sắc thái đô thị biểu hiện qua cách tổ chức không gian đô thị và không gian sinh hoạt xã hội.

Trên khía cạnh văn hóa quốc gia về nhận thức, trình độ, cách ứng xử nhìn từ góc độ đại chúng thì gia đình có thể được xem như là tế bào hình thành nên bộ mặt và không gian văn hóa quốc gia. Trong đó cái nết ăn ở của từng tế bào thể hiện và phản ảnh các giá trị cơ bản cấu thành tính cách của một dân tộc.

Người Việt Nam đang sống ở đâu và sống như thế nào trong cái không gian đô thị như hiện nay?

Bỏ qua những nhận định dài dòng mang tính biện minh cho một cái gì đó định sẵn; bỏ qua những câu nệ về văn hóa lịch sử nhì nhằng… Cứ nhìn thẳng vào thực tế những gì đang hình thành và diễn ra ngay trước mắt, không thể chối bỏ sự thực là hiện nay chúng ta đang sống trong những cái chợ, những cái chợ lớn nhỏ tùy theo quy mô của đô thị, của quần cư mà chúng ta đang hít thở và sinh hoạt mỗi ngày.

Những cái chợ theo nghĩa đen nhiều hơn nghĩa bóng với đầy đủ tính chất, đầy đủ các mặt sáng tối của từ này. Những cái chợ này đã xóa hẳn cái tiếng tăm Hòn Ngọc Viễn Đông của Sài Gòn, đã từng ngày nuốt chửng cái không gian thấm đượm màu sắc văn hóa lịch sử của Hà Nội, đè lên cái nét thi ca tự tình của Huế, đang dồn cái không gian lãng mạn ngút ngàn hoa cỏ của Đà Lạt dần đi vào dĩ vãng…

Cái gì mà có sức tàn phá một cách cuồng bạo, chỉ trong một thời gian ngắn đã làm biến thể cả một bộ mặt đô thị, bộ mặt đất nước như thế?

Tại các đô thị lớn nhỏ hiện nay, 90% dân số sống trong các nhà ống và sử dụng xe gắn máy là phương tiện đi lại chính. Nhà ống và xe gắn máy, chắc chắn đã là hình thái của xã hội ta. Có ai hay cơ quan nào xem xét cạn cùng vấn đề này để trả lời câu hỏi: Nhà ống và xe gắn máy là diện mạo hay bản sắc của Việt Nam? Câu trả lời không khó, vấn đề là chúng ta có thực sự nhìn nhận thực tế đó hay còn đang mộng tưởng vào những viễn cảnh đô thị xa vời nào đó hoặc đang để mối quan tâm hoài vọng về những giá trị tinh thần xa lắc trong quá khứ!

Nhà ống và xe gắn máy thực sự đã trở thành biểu tượng quốc gia. Biểu tượng: Hình ảnh + Tinh thần có tính chất phổ biến và trực tiếp tác động lên đời sống xã hội.

Không biết tự bao giờ và nguyên do từ đâu, người Việt bây giờ có lẽ đang sống và sắp đặt cuộc sống của mình theo kiểu đa hướng. Sự đa hướng là nguyên tắc tồn tại một cách có ý thức và vô thức trong suy nghĩ của mỗi người. Ai cũng thấy và cần phải biết làm cùng lúc nhiều việc khác nhau như là phương cách bắt buộc để tồn tại.

Đa phần sinh viên tốt nghiệp kiếm sống bằng công việc chẳng liên quan gì tới việc học trước đó; một quan chức nhà nước có thể ngồi vào bất cứ chiếc ghế nào và xử lý bất cứ loại công việc nào cũng được; trên đồng ruộng nay trồng cây này, mai cây kia và mốt lại hoàn toàn có thể trở thành nền nhà hay sân gôn… Nhà văn vừa viết vừa vẽ, nhạc sĩ vừa hát vừa phục vụ bia rượu cho các “thượng đế”; từ người mới biết đọc biết viết đến các bậc học giả ai cũng nói pha trộn lẫn lộn vào tiếng Việt cùng lúc mấy loại tiếng nước ngoài; tiền đồng, tiền đô, tiền Nhật, tiền châu Âu đều xài được.

Kiến trúc sư thường xuyên được các thân chủ yêu cầu thiết kế với tiêu chí: nhà tôi phải vừa ở vừa kinh doanh được, mặt bằng dành cho kinh doanh phải đáp ứng được nhiều dạng kinh doanh khác nhau, cụ thể là có thể cho thuê văn phòng, mở tiệm cắt tóc gội đầu, khi cần có thể cải biên thành quán ăn, khách sạn hay tiệm mát-xa… Thực tế trên đường phố hiện nay, có thể bên cạnh trụ sở công an là quán nhậu, rồi thì tiệm tạp hóa, thời trang, nhà giữ trẻ, quán karaoke, tiệm ăn… Ở đâu cũng kinh doanh mua bán, mua bán từ trong nhà ra tới lòng lề đường, đứng ngồi đủ kiểu. Người ta luôn cần một ngôi nhà đa dụng, mà một ngôi nhà đa dụng tốt nhất nên là một ngôi nhà mặt tiền.

Có cầu ắt có cung, thế là đô thị cứ lan rộng, nhiều khu đô thị mới đua nhau mọc lên với nhiều đường sá được xây dựng để đáp ứng nhu cầu mặt tiền. Nếu đô thị hiện hữu đã là những cái chợ thì đô thị mới cũng vậy, số vụ tai nạn giao thông không kiềm chế được bởi vì bây giờ người ta làm đường để bán đất chứ đâu phải để dùng cho giao thông!

Vấn đề đô thị lan rộng đã được thế giới rút ra nhiều bài học cay đắng, đô thị càng lan rộng thì không gian đô thị càng lâm vào bế tắc trên mọi mặt: giao thông, môi trường cảnh quan, phúc lợi xã hội… cộng thêm tệ nạn xã hội lan tràn không kiểm soát được, sự cân bằng môi trường sinh thái bị phá vỡ không gì cứu vãn được.

Đã là nhà ống thì nhất thiết phải sử dụng xe gắn máy. Phương tiện này có sự hữu hiệu không thay thế được. Chiếc xe gắn máy chiếm rất ít chỗ trong nhà, già trẻ, lớn bé, nam nữ đều sử dụng được, tiện lợi cho mọi mục đích đi lại và chuyên chở, khi cần có thể trở thành phương tiện sinh nhai và nhất là muốn dừng lại ở đâu cũng được. Nhà ống và xe gắn máy là hai mặt không thể tách rời của cơ cấu đô thị hiện nay, chúng tồn tại cộng sinh và như là một điều hiển nhiên tối ưu không phải bận tâm chọn lựa.

Dân tình bây giờ không phải tìm cách thích ứng với cơ cấu xã hội-môi trường đó mà chính là kiểu đô thị chợ với nhà ống và xe gắn máy đang quy định cách sống, cách ứng xử, cách suy nghĩ hay tựu trung màu sắc văn hóa của nó phủ lên toàn bộ đời sống xã hội đến từng cá nhân.

Mới đầu thì tập cho quen, dần dà trở thành tập tính và tư duy của cộng đồng. Tập tính và tư duy của kẻ chợ đó là:

Sống theo kiểu tranh cướp nhau: không gian công cộng điển hình là vỉa hè thuộc quyền sử dụng của kẻ nào ngang ngược và bặm trợn hơn. Người ta không mảy may ưu tư về việc buôn gian bán lận lừa lọc người khác và có khi coi đó như là một thủ thuật kinh doanh tất yếu. Thậm chí có nhiều quan chức còn đặt vấn đề đưa vỉa hè vào thương trường.

Sống ích kỷ và hung bạo: bây giờ người ta sẵn sàng gây hấn, xung đột nhau chỉ vì những nguyên nhân nhỏ nhặt nhất, ai cũng tranh được phần mình bất kể quyền lợi và danh dự của người khác. Nam nữ, già trẻ đua nhau vặt trụi một vườn hoa ngày Tết chỉ trong một buổi tối; 500 nhân viên chuyên nghiệp mới đủ để bảo vệ mấy cành đào…?!

Sống mất trật tự, xem thường kỷ cương: bây giờ cái gì cũng chạy, giấy phép loại gì cũng chạy (mà giấy phép bây giờ rất nhiều), con cái đi học cũng chạy, đau ốm vào bệnh viện cũng chạy, chạy thủ tục, chạy án, chạy tới công sở, chạy tới đình chùa miếu mạo, từ người tử tế đến kẻ bất lương tất cả đều phải chạy và hình như việc gì cũng có chỗ để chạy. Sẽ ra sao với một đất nước mà điều không thể vẫn có cơ hội để trở thành có thể và cứ như vậy thì luật pháp và những quy tắc cộng đồng sẽ chỉ dùng để trang trí vì khi đó phần thắng luôn thuộc về kẻ giỏi chạy, biết chạy bất cứ ở đâu và bằng gì!

Và cứ như thế xã hội ngày càng bát nháo, bát nháo không chỉ ở diện mạo của nó mà có sự góp phần một cách vô thức của từng cá thể cấu thành cái không gian giao tiếp, cái không gian tâm tưởng, cái không gian văn hóa…của cộng đồng chúng ta.

Trở lại vấn đề nhà ống và xe gắn máy, đã đến lúc xem xét vấn đề này không đơn thuần như là một diện mạo xã hội mà như một bản sắc quốc gia. Dẫu đau lòng, nhưng phải công nhận đó như là một sự thật hiển nhiên phải đối mặt, đó là một vấn đề văn hóa cấp quốc gia, là bộ mặt đất nước mà lương tri tối thiểu của người có chút suy nghĩ không thể bỏ qua hoặc ngó đi chỗ khác.

Có thể nào gọi là phát triển một khi phúc lợi xã hội ngày càng nghèo đi, diện mạo đất nước ngày càng luộm thuộm, lòng người ngày càng phân tán, nhỏ nhen. Nhiều đường sá được xây dựng, nhiều nhà cao tầng mọc lên, vật chất thời thượng tràn đầy, từ ngữ hiện đại và phong cách luôn được nói tới như một chuẩn mực sống văn minh và hội nhập. Nhưng phải chăng đó là một cách để che đậy sự nghèo nàn về tinh thần bên trong và biện minh cho sự tiếp nhận ào ạt màu sắc văn hóa ngoại lai tràn ngập; nó thúc con người lao vào cái bóng sáng ngoại nhập đó như con thiêu thân lao tới cái bóng đèn, xem đó là cái đích duy nhất, gạt sang một bên và bỏ lại sau lưng sự đằm thắm của nhân cách, sự tĩnh lặng của tinh thần. Mà đây mới là những giá trị bền vững cần có trên bình diện tồn tại của một cộng đồng, một dân tộc.

Có nhà văn nào đó đã nói một điều làm chúng ta phải suy nghĩ: “Nếu không mục ruỗng từ bên trong thì không có gì từ bên ngoài có thể thâm nhập được”.

Ngôi nhà, không gian sống, tế bào của xã hội bây giờ gần như không còn là nơi gìn giữ những giá trị tinh thần, những giá trị về màu sắc nhân văn riêng biệt trong tâm tính và tâm hồn của mỗi người Việt Nam tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ sau. Gia đình bây giờ tồn tại trong không gian xã hội, nơi mà ngôi nhà được dựng lên như là một giao điểm xã hội với mọi thứ xô bồ ngang dọc, mang đến toàn bộ tác động từ hoàn cảnh và môi trường chung quanh. Cái môi trường xã hội giàu sự đua chen và bắt chước lại rất nghèo về tinh thần và tính nhân văn.

Văn hóa không có trong những mộng ước. Văn hóa tồn tại trong thực tiễn đang diễn ra từng giây, từng phút, từng giờ, từng ngày. Mọi sự nhận định, phê phán, mọi sự mong muốn đều phải được rút ra từ phương pháp đối diện với cuộc đời, đối diện thẳng thắn với cội nguồn của sự việc.

Mọi sự bàn luận, đánh giá sẽ trở nên sáo rỗng nếu không xuất phát từ những định nghĩa có tính chất cốt tử.

Không phải là nhà nghiên cứu khoa học xã hội chuyên nghiệp, không có hệ thống dữ liệu để tổng hợp cho cái nhìn toàn diện; không thông thạo lịch sử và không là nhà nghiên cứu văn hóa…, với cái nhìn hạn hẹp và có phần chủ quan của một kiến trúc sư hay quan sát, cộng thêm chút kiến thức và cảm nhận về lịch sử phát triển đô thị thế giới trên khía cạnh nhân văn, tôi muốn nêu lên một câu hỏi – theo sự chủ quan cá nhân – có ý nghĩa quan trọng và căn bản để tạo tiền đề, điểm xuất phát cho bài toán hoạch định xã hội: “Nhà ống và xe gắn máy: Diện mạo hay Bản sắc?”.

VTL

Gửi người Việt Nam hoang phí

Khương Duy

Mỗi mảnh đất của quê hương là một mảnh thịt xương người Việt đã ngã xuống để giữ gìn. Sao không bằng sức mình làm giàu trên mảnh đất ấy? Trao nó vào tay người ngoài không chỉ là hoang phí mà còn là một mối nguy hiển hiện. Đó là một sự lãng phí có tội với tương lai của đất nước.

“Tiết kiệm là quốc sách” – câu nói ấy được lặp đi lặp lại không biết bao lần trên sách vở, báo đài nhưng dường như tác dụng của nó thực sự chưa thấm vào đâu. Tôi chợt nghĩ, đó là do người Việt Nam chúng ta không những không có bản tính tiết kiệm mà ngược lại còn vô cùng hoang phí, nên khẩu hiệu ấy mới như “nước đổ lá khoai”.

Hãy bỏ qua những “tiểu tiết” như tắt điện, tắt điều hoà khi ra khỏi phòng hay những bữa tiệc xa hoa của không ít người Việt Nam khiến người nước ngoài cũng phải “nể” – những sự hoang phí mang tính cá nhân như thế chưa thấm vào đâu so với “trào lưu” hoang phí của cả một đất nước.

Bắt đầu từ chuyện những hồ nước Hà Nội bị san lấp và nhiều cánh đồng “bờ xôi ruộng mật” khắp các tỉnh thành đột nhiên biến thành sân golf hay được bê tông hoá thành khu công nghiệp. Đúng sai, phải trái thế nào người dân đã nói quá nhiều. Tôi chỉ xin nhấn mạnh rằng việc xẻ thịt ao hồ, đồng ruộng như thế là cực kỳ hoang phí.

Ảnh: e-city.vn

Đâu phải thành phố nào trên thế giới cũng được thiên nhiên ban tặng hệ thống hồ đẹp và dày đặc như Hà Nội. Vậy mà chúng ta đã biến bao hồ lớn hồ nhỏ của thủ đô thành ao tù chứa rác, thậm chí còn muốn bức tử chúng để xây cao ốc, chung cư. Và dù biết rằng phải mất mấy trăm năm, mấy ngàn năm những mảnh đất cằn khô mới thành ruộng nước hai mùa trồng lúa, chúng ta vẫn nhẫn tâm đổ bê tông cốt thép lên trên để “xây cho nhà cao cao mãi”. Hành vi đó có thể gọi là gì ngoài hai từ hoang phí?

Ai đi qua đường Láng sẽ nhìn thấy tấm biển đề “Di tích lịch sử văn hoá Chùa Nền”, tấm biển mờ mịt vì bụi, chỉ lối vào một ngôi chùa luôn đóng cửa im ỉm, sân chùa đã được trưng dụng làm kho hàng, bãi gửi xe, trước cổng chùa ngổn ngang xi măng, sắt thép. Có phải vì cả nước có quá nhiều những “di tích lịch sử văn hoá đã xếp hạng” nên chúng ta thành ra coi thường? Nếu cứ hoang phí các di tích như thế, đến lúc chúng ta sẽ phải xếp chúng vào “sách đỏ” vì nguy cơ tuyệt chủng.

Cả những “di sản văn hoá phi vật thể” cũng đâu được chúng ta trân trọng. Sự hoang phí đội lốt bảo tồn mới đáng sợ làm sao: chúng ta háo hức giới thiệu với thế giới về ca trù, quan họ; sung sướng nếu trong cuộc giao lưu, bạn bè nước ngoài nói vài câu tiếng Việt hay hát một điệu dân ca. Nhưng chính chúng ta đâu có biết trân trọng chúng? Bao nhiêu người Việt Nam ngồi xem hết một vở chèo hay một vở cải lương? Chúng ta đối xử một cách lạnh nhạt những thứ mà ngoài miệng xưng tụng là tinh hoa. Với sự hoang phí ấy, liệu bao nhiêu bằng  công nhận của UNESCO mới đủ để giúp những tài sản tinh thần của dân tộc ta thôi tuyệt chủng?

Tôi chợt lạnh người khi gần đây báo chí đang xôn xao về chuyện nhiều địa phương cho nước ngoài thuê rừng, thuê đất. Ảnh: cadn.com.vn

Một sự lãng phí đáng lo ngại hơn nữa – lãng phí nhân tài. Đất nước ta có truyền thống hiếu học và trọng người có học. Nhưng giữa trọng thị và biết cách sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nhân tài lại có khoảng cách khá xa. Đã có bao nhiêu người tu nghiệp trời Tây, mong được về làm việc trong cơ quan Nhà nước nhưng rồi đành ngán ngẩm khăn gói ra đi “làm thuê cho Tây”. Bao nhiêu vị có học hàm học vị vẫn hàng ngày đến cơ quan chỉ để nhâm nhi nước chè? Bao nhiêu luận văn, luận án phủ bụi trong thư viện?

Nhân tài không phải như ao hồ tự nhiên mà có, để có một nhân tài, người mẹ đã đổ mồ hôi trên cánh đồng, người cha đã sôi nước mắt trên những cuốc xe ôm, người con đã mờ mắt vì những đêm chong đèn thức trắng. Vậy mà nhân tài cuối cùng đi đâu? Chợt nhớ lời của người xưa: “Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”. Nhưng với Việt Nam, có lẽ không phải số nhân tài quá ít nên không đủ lấp đầy “nhà trống”, mà vì nó trống trải, lạnh lẽo, khó sống quá nên nhân tài vào cửa trước ra cửa sau. Ai đó đã đúc kết một câu nói chua chát nhưng không phải không có lý rằng người Việt ta “giàu thì ghét, nghèo thì khinh, thông minh thì không dám dùng.” Nếu vẫn giữ sự lãng phí nhân tài, liệu đến bao giờ chúng ta mới có thể hoá rồng, hoá hổ hay mãi mãi chỉ loay hoay trong cái bẫy thu nhập trung bình?

Tôi chợt lạnh người khi gần đây báo chí đang xôn xao về chuyện nhiều địa phương cho nước ngoài thuê rừng, thuê đất. Chao ôi, mỗi mảnh đất của quê hương là một mảnh thịt xương người Việt đã ngã xuống để giữ gìn. Sao không bằng sức mình làm giàu trên mảnh đất ấy? Trao nó vào tay người ngoài không chỉ là hoang phí mà còn là một mối nguy hiển hiện. Đó là một sự lãng phí có tội với tương lai của đất nước.

Nếu không chịu tỉnh mộng, vẫn tưởng người Việt chúng ta luôn biết tiết kiệm, biết trân trọng những thứ mình có, đến một ngày sực tỉnh muốn trân trọng, muốn tiết kiệm những thứ ấy e đã muộn rồi.

Theo TVN/VNN

Tàn sát thiên nhiên nhân danh hủ tục

Đào Tuấn

Viết về vua Lý Nhân Tông, Đại việt sử ký toàn thư chép lại những việc lớn trong đạo trị quốc của vị vua, được các sử gia sau này đánh giá là minh quân, là một quân vương mẫn tiệp, bậc thần võ sáng suốt: Năm Ất Mão, 1075, nhà vua mở khoa thi tam trường còn gọi là Minh kinh bác học  để chọn người tài làm quan. Năm Bính Thìn, lập Quốc Tử Giám- trường đại học đầu tiên ở Đại Việt. Trong 56 năm trị quốc, nhà vua đã hai lần xuống chiếu cấm mổ trâu: “Kẻ nào mổ trộm trâu thì phạt 80 trượng, đồ làm khao giáp, vợ xử 80 trượng, đồ làm tang thất phụ và bồi thường trâu; láng giềng biết mà không tố cáo, phạt 80 trượng”. Lý Nhân Tông là người đầu tiên khởi xướng việc đắp đê phòng lũ mà đoạn đê Cơ Xá còn đến ngày nay. Và, năm 1722, nhà vua xuống chiếu cấm dân chúng mùa xuân không được chặt cây. Dù còn nhiều ý kiến, rằng việc bảo vệ cây xanh có lẽ xuất phát từ sự hâm mộ Phật pháp của nhà vua, song dường như khi đưa chi tiết này vào sử sách, các sử gia đã nhận thấy Ngài là vị vua đầu tiên trong lịch sử Việt Nam nhận thức được ý nghĩa của việc bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái vì sự sống còn của con người, nhất là đối với cư dân làm nông nghiệp. Đây cũng là lần đầu tiên, việc bảo vệ môi trường thiên nhiên được đưa vào luật để trăm quan và dân chúng cùng phải tuân theo.

Việc bảo vệ thiên nhiên, dường như từ bấy giờ đã được đánh giá quan trọng không thua kém gì việc dạy dân làm nông, đánh cá, mở trường dạy học.

Theo phong tục cổ truyền, người Việt có tục bẻ lấy một cành lộc để mang về nhà lấy may, lấy phước. Đó là tục hái lộc. Cành lộc là một cành đa nhỏ hay cành đề , cành si … là những loại cây quanh năm tươi tốt và nẩy lộc. Tục hái lộc ở các nơi đền, chùa ngụ ý xin hưởng chút lộc của Thần, Phật nhân năm mới. Lộc xuân hái từ những cây thuộc bộ tứ linh đa, sung, xanh, si, theo quan niệm xưa, sẽ đem lại kết quả tốt đẹp.

Nhưng từ nhiều năm nay, việc hái lộc mà thực chất là bẻ lộc, là tàn sát thiên nhiên, đã nghiêm trọng đến mức cái ý nghĩa phong tục đã biến mất, nhường chỗ cho hai chữ hủ tục gây bức xúc trong xã hội.

Đêm 30 tết Canh Dần, người dân ở Đồng Hới, Quảng Bình đã bằng mọi giá “tàn phá” cây xanh trước các trụ sở ngân hàng, kho bạc dù dưới gốc cây có… công an đứng gác. Ở Hà Nội, các tuyến phố thuộc Quận Cầu Giấy, Tây Hồ trở nên xơ xác vì chuyện hái lộc sau đêm 30, đặc biệt tại các khu vực gần chùa chiền. Không chỉ đa, sân, si, người ta “hái” bất cứ cành gì, của bất cứ loại cây gì. Không chỉ bẻ bằng tay, người ta còn mang dao ra để chặt. Có người nói: Sự chặt phá và chiếc dao là biểu tượng của sự chết chóc, của sát khí, của sự tàn hại… khiến cho cây cối của mùa xuân vốn là biểu tượng của sự sống bị sứt sẹo, què cụt, vì một chữ “lộc”. Không lẽ cứ mỗi dịp tết đến xuân về, mỗi một cây xanh sẽ lại phải lăm lăm hai, ba công an để ngăn chặn chuyện tàn sát cây nhân danh hủ tục “hái lộc”?

Vào giao thừa năm Mậu Tý, tại Hồ Hoàn Kiếm- Hà Nội, hơn 30 nhân viên của Viettel đã triển khai thực hiện chương trình “Vui lộc đầu xuân” với 10 ngàn “Lộc may mắn” là những câu đối Tết có gắn búp bê cầu may cho người dân đi chơi giao thừa. Đây là một sáng kiến rất hay nhằm giảm bớt tình trạng bẻ cành, tàn phá cây cổ thụ xung quanh hồ Gươm. Rồi thì tại hầu hết các chùa, đều có bán các loại cây “lộc” đầu năm như mía, cây sống đời. Nhiều ngôi chùa nổi tiếng như Chùa Hà, thậm chí tiến hành phát lộc cho những người đi lễ đầu năm. Nhưng tất cả những việc làm đó không ngăn được sự tàn phá của hủ tục hái lộc.

Cách đây chưa lâu, khi những đoạn video clip quay cảnh những người đi Lễ hội Hoa Anh Đào tại Hà Nội xúm vào vặt trụi ba cây Anh Đào xinh đẹp được kỳ công mang từ đất nước mặt trời mọc sang khi lễ hội còn chưa bế mạc, những người tự trọng đã đỏ mặt vì xấu hổ.

Gần đây nhất, tại Lễ hội Hoa Hà Nội, ngay dưới chân tượng vua Lý Công Uẩn, người ta, với đủ cả nam phụ lão ấu đã tranh cướp, tàn phá trong nhốn nháo và hỗn loạn đến mức những người nước ngoài được chứng kiến đã phải lắc đầu mà than rằng: “Crazy”

Những cành cây xanh, những bông hoa được những người bẻ, người cướp coi là lộc để lấy may dù bẻ cây, cướp hoa không phải là một phong tục tốt đẹp, không phải là một nét đẹp văn hóa. Đó là điều đáng hổ thẹn. Bởi việc tàn sát thiên nhiên để lấy lộc cho riêng mình nhiều khi cũng dã man cũng như tục dâng hiến sinh linh từng mông muội một thời. Và, không thể biện minh cho hành vi thiếu văn hóa và tàn phá thiên nhiên bằng bất cứ lý do gì, dù đó là tục lệ.

Bây giờ mới bắt đầu tháng hành hương của năm du lịch 2010 với dày đặc các lễ hội, các sự kiện văn hóa. Liệu những ngôi chùa hàng trăm năm tuổi, những di tích mà mỗi cành cây ngọn cỏ đều in dấu của lịch sử sẽ ra sao nếu như thiếu vắng màu xanh chỉ vì nạn “hái lộc”? Có còn lễ hội, còn văn hóa, còn lịch sử nếu hủ tục này tiếp tục được duy trì và dung dưỡng bằng sự thiếu ý thức văn hóa nhân danh tục lệ?

Năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động Tết trồng cây trong toàn dân với lời dạy: “Việc này ít tốn kém mà lợi ích nhiều”. Đã có rất nhiều ý kiến cho rằng: “Hái lộc đầu xuân” là một trong những hủ tục không nên duy trì. Vì sao chúng ta không khai xuân mới bằng cách duy trì phong tục tốt đẹp là trồng cây thay cho sự tàn sát, chặt phá cây xanh mà từ đầu thiên niên kỷ thứ nhất vua Lý Nhân Tông đã coi đó là hành vi phá hoại được đưa vào luật để cấm triệt để?


Và sau giao thừa là…rác

Nô nức chung vui đón giao thừa, thế nhưng sau giao thừa, rác tràn ngập ở khu vực Hồ Gươm- trung tâm của Thủ đô Hà Nội

Sau giao thừa, xung quanh hồ Gươm đã biến thành một bãi rác khổng lồ. Giấy báo, áo mưa, vỏ lon…được để “quên” một cách không thương tiếc.

Sau màn pháo hoa, mọi người ra về để lại toàn là... rác

Sau màn pháo hoa, mọi người ra về để lại toàn là... rác

Rác ở khắp mọi nơi

Rác ở khắp mọi nơi...

...dưới hồ

...dưới hồ

... và cả trên vỉa hè

... và cả trên vỉa hè

...trên thảm cỏ

...trên thảm cỏ

... dưới nước

... dưới nước

Trên ghế đá...

Trên ghế đá...

Thùng rác có ở khắp mọi nơi nhưng đều... trống rỗng

Thùng rác có ở khắp mọi nơi nhưng đều... trống rỗng

Những người lao công phải vất vả ngay trong đêm để thu dọn khối lượng rác khổng lồ

Những người lao công phải vất vả ngay trong đêm để thu dọn khối lượng rác khổng lồ

Biết đến bao giờ mọi người mới có ý thức hơn để niềm vui đêm giao thừa được trọn vẹn…

  • Quang Trung (Theo VOVNEWS.VN)

Những hình ảnh không đẹp ở nơi văn hiến

Quang cảnh Văn Miếu những ngày này không gợi nên một truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo mà thật xô bồ, hỗn độn, bởi nhiều hành vi thiếu văn hóa, thiếu tôn trọng chốn thâm nghiêm

Nước ta vốn có truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo.
Dân ta có thói quen đi lễ đền, chùa đầu năm, ấy là một tập quán đẹp.

Văn Miếu – Quốc Tử Giám trong những ngày đầu xuân luôn đông nghịt người. Nơi đây là cửa thánh hiền, là ngôi đền thờ chữ. Những người đi Văn Miếu thường cầu may mắn về đường học hành, thi cử, cầu hoạn lộ công danh.

Những năm gần đây Văn Miếu luôn quá tải người viếng thăm trong các dịp Tết hay dịp thi đại học. Người ta quan tâm tới học hành thi cử nhiều hơn, nên “lễ nghĩa”, cầu cúng cũng nhiều hơn. Quang cảnh Văn Miếu những ngày này không gợi nên một truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo mà thật xô bồ, hỗn độn, bởi nhiều hành vi thiếu văn hóa, thiếu sự tôn trọng cần có ở chốn thâm nghiêm, và thậm chí còn xâm hại di tích.

Những hình ảnh dưới đây do phóng viên VOVNews ghi lại chiều mồng 3 Tết Canh Dần tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội.

Đông nghịt người tới Văn Miếu trong những ngày đầu năm. Ngay ngoài cổng là hàng rong vây kín.

Dòng người đi vào trong không ngớt. Chen chúc nhau trước dãy nhà bia để… sờ đầu rùa lấy may mắn. Không biết bao giờ mới chấm dứt được tình trạng xâm hại di tích như thế này???

Ban quản lý đã lập một hàng rào xích sắt quanh dãy nhà bia. Nhưng hàng rào này quá yếu trước sự “nhiệt tình” của những người “hiếu học”!

Người ta chen nhau mua chữ cầu may. Mua- bán như ở chợ vì chữ được viết sẵn, treo sẵn để bán!

Hàng ăn uống nhếch nhác ngay bên của thánh hiền, rác xả ra bên cạnh.

Bái đường Đại Thành Điện là một cái chợ bán chữ, và bán đủ thứ…

Chen nhau khấn vái trong Đại Thành Điện – nơi thờ Khổng Tử và các học trò. Trong tay là tiền may mắn hay tiền công đức ???

Đặt tiền lẻ bừa bộn trên ban thờ…

Cài cả vào gốc cây…

thả lên mái Nhà Thái học…

Hình ảnh cuối cùng này…

… không cần kèm theo lời chú thích hay bình luận.

Nhưng đã đến lúc phải gióng lên một tiếng trống báo động về sự biến tướng truyền thống tốt đẹp của dân tộc; báo động về sự xâm hại giá trị vật thể và cả phi vật thể ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám./.

  • Hà Thành ( Theo VOVNEWS.VN)