Giàu hay hạnh phúc?

Chính phủ nhiều nước đã suy nghĩ lại mô hình phát triển đất nước của mình vì họ cho rằng một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế toàn cầu là do các nước đã chạy theo tăng trưởng GDP. Điều này dẫn đến hệ lụy nền kinh tế tăng trưởng nóng, lạm phát, môi trường bị hủy hoại.
Xe hơi chen chúc vào giờ cao điểm tại Q.1, TP.HCM - Ảnh: Đức Trí

Xe hơi chen chúc vào giờ cao điểm tại Q.1, TP.HCM - Ảnh: Đức Trí

Các nhà kinh tế và chính phủ một số nước châu Âu cho rằng cần điều chỉnh theo hướng không xem tăng trưởng GDP là mục tiêu mà làm thế nào để người dân hạnh phúc hơn mới là mục tiêu.

Đa dạng hóa về mặt tinh thần, môi trường không bị ô nhiễm, đặc biệt là sự quản trị tốt của chính phủ và các cấp chính quyền địa phương chính là mô hình phát triển tương lai mà các nước hướng đến.

Chúng ta cũng đạt mục tiêu phải phát triển cân đối, chú ý bảo vệ môi trường, ổn định xã hội… nhưng thực tế cho thấy chưa hẳn như vậy. VN đặt yêu cầu dài hạn phải bảo đảm tăng trưởng bền vững nhưng quá trình tổ chức vẫn xem tăng trưởng GDP là mục tiêu quan trọng và cái giá phải trả chúng ta cũng đã nhìn thấy trong những năm qua: lạm phát quá cao, đầu tư ngân sách quá nhiều, đâu đâu cũng là đại công trường…

Nếu chúng ta không kịp thời điều chỉnh thì khó có thể “sang trang” được trong chặng đường đi tới tương lai. Có thể kinh tế VN sẽ vẫn tăng trưởng và đạt những mục tiêu đề ra nhưng đó là tăng trưởng rất chật chội, ngột ngạt và có thể phải trả giá bằng những bất ổn như lạm phát quay trở lại tác động đến đời sống kinh tế – xã hội, chênh lệch giàu nghèo gia tăng….

Bài học Trung Quốc cho thấy nền kinh tế tăng trưởng cao nhưng phân hóa giàu nghèo quá lớn. VN có thể đứng vào hàng các nước có thu nhập cao trong tương lai nhưng con số thu nhập bình quân của mọi người có thể cũng chênh lệch rất lớn. Điều này sẽ làm giảm ý nghĩa phát triển chung của xã hội. Chúng ta cần phải có những quyết sách và hành động cụ thể hơn để mở thêm nhiều cơ hội cho tất cả mọi người. Trong đó cơ hội đầu tư phải được bình đẳng, không phân biệt trong nước, nước ngoài, tư nhân hay nhà nước.

  • PGS.TS TRẦN NGỌC THƠ
    LÊ NAM ghi (Theo Tuổi Trẻ Online)

Cái giá phải trả cho hy sinh môi trường

Sau một thời kỳ phát triển, doanh nghiệp Việt Nam đã tiến những bước dài trong phát triển nội lực, họ đã đủ sức để đi qua giai đoạn khủng hoảng kinh tế và sẵn sàng nắm bắt những cơ hội mới trong năm 2010 khi thị trường hồi phục. Tuy nhiên, sự phát triển về quy mô và sự thâm dụng tài nguyên đã để lại gánh nặng môi trường, mà không dễ dàng giải quyết một sớm một chiều. Chạy theo tăng trưởng, bất chấp các thủ tục bảo vệ môi trường, xả nước bẩn ra sông rạch… đang là nguyên nhân chính bức tử các dòng sông, gây ô nhiễm trầm trọng môi trường sống hiện nay.

Đừng biến Việt Nam thành bãi rác công nghiệp

Núi nix phế thải của Hyundai – Vinashin ở thôn Mỹ Á, xã Ninh Thuỷ (tháng 8.2005). Ảnh: Lan Trang

Ông Lê Như Ái, giám đốc công ty nước uống tinh khiết Sapuwa, bức xúc: “Nhà nước cần mạnh tay hơn nữa về bảo vệ môi trường, không thể phát triển kinh tế bằng mọi giá được. Đừng quá hào hứng với những con số đầu tư, chạy theo chỉ số GDP, chạy theo thành tích, biến Việt Nam thành “bãi rác công nghiệp” của các nước tiên tiến”.

Theo ông Ái, công nghệ sản xuất lạc hậu ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Ai cũng biết thế, nhưng do luật còn có kẽ hở, nên không ít nhà đầu tư nước ngoài đã lợi dụng để đổ vào Việt Nam hàng loạt những dây chuyền công nghệ đã lỗi thời, với thiên hình vạn trạng những “chiêu” lừa, như dán lại nhãn mác để “qua mặt” quy định. Đó là chưa kể một số nhà đầu tư trong nước còn tiếp tay cho nhà đầu tư nước ngoài trong việc phá hoại môi trường. “Rất nhiều doanh nghiệp vi phạm luật bảo vệ môi trường, chỉ có bị lộ hay chưa bị lộ mà thôi”, ông Ái kết luận.

Giám đốc công ty Le & Associates và Motibee bà Phan Thị Mỹ Lệ cho rằng doanh nghiệp nước ngoài dù ý thức rất rõ về luật, nhưng nếu ta chủ quan, họ vẫn làm bậy như thường. Với cộng đồng doanh nghiệp trong nước, ý thức bảo vệ môi trường thường mới chỉ là đối phó. Đối phó để xuất khẩu được hàng, đối phó để qua mặt thanh tra…

“Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững phải liên kết chặt chẽ với nhau. Trong khi đó, hiện tại ý thức bảo vệ môi trường của doanh nhân Việt Nam còn thấp, đa số chạy theo lợi nhuận”, bà Lệ nói. Vẫn theo bà Lệ, sự kiện Vedan là một ví dụ cho thấy pháp luật còn quá lỏng lẻo. Hành vi gây ô nhiễm môi trường của Việt Thắng cũng phải xử lý thật nghiêm mới có tác dụng răn đe.

Ông Đoàn Đình Quốc, tổng giám đốc DQ corp, ưu tư: “Thực sự chúng ta đã và đang đánh đổi. Nhiều thành tựu của các công ty thu được từ sự hy sinh môi trường thiên nhiên và cuộc sống của người dân. Chân thành mà nói, chính cả bản thân tôi, đôi lúc vẫn chưa thực sự đặt việc bảo vệ môi trường đúng với yêu cầu xứng đáng của nó trong chiến lược phát triển kinh doanh nói chung”.

Xử phạt quá nhẹ, doanh nghiệp coi thường

Số lượng doanh nghiệp không chấp hành quy định bảo vệ môi trường đang tăng lên đến mức lo ngại. Trong khi đó, các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm lại gặp nhiều khó khăn.
Ông Phạm Xuân Trường, giám đốc Creations tâm sự: “Cha tôi qua đời vì bệnh ung thư, nên tôi thấm thía hơn ai hết nỗi đau khi nhìn các dòng sông đang chết. Thế nhưng vẫn có ít doanh nghiệp thực sự đầu tư nghiêm túc cho xử lý nước thải, đa số là lách luật để giảm chi phí. Nếu pháp luật có hình thức chế tài mạnh hơn, công minh hơn, dẫn đến phá sản doanh nghiệp, mới có thể ngăn ngừa được tình trạng gây ô nhiễm”. Ngoài ra, ông Trường cho rằng, cần có cơ chế để chống tham nhũng, có thưởng phạt xứng đáng cho người phát hiện và bảo vệ họ, vì bộ máy công quyền không thể kiểm soát hết được.

“Hầu hết mức xử phạt đều chưa hợp lý, tạo nên nhiều tiền lệ xấu, khiến doanh nghiệp coi thường, vi phạm lặp lại trở thành phổ biến”, ông Đoàn Đình Quốc phân tích. Ở nhiều quốc gia, đôi khi chỉ vì một vi phạm nhỏ, doanh nghiệp phải trả giá rất lớn, nhất là niềm tin của người tiêu dùng. Còn ở ta, rất nhiều doanh nghiệp gây hậu quả rất lớn với môi trường nhưng chỉ bị xử phạt kiểu hình thức, rồi đâu lại vào đấy.

Cái giá phải trả

Do đầu tư ban đầu chưa hợp quy chuẩn, nên khi vi phạm, nhiều doanh nghiệp lúng túng trong việc thay đổi kỹ thuật. Ông Trần Hữu Chinh, tổng giám đốc công ty Fideco, nói: “Để luật được thực thi, Nhà nước cần phải kiểm soát gắt gao những nhà đầu tư khu công nghiệp trong phương án báo cáo về phát triển và tác động môi trường trước khi phê chuẩn”.

Tại Fideco, theo ông Chinh, đã từng phải sửa lại hoàn toàn hệ thống xử lý nước thải của nhà máy đông lạnh Hải Việt ở Vũng Tàu khi bị cảnh báo. Cụ thể là ngưng mấy tháng sản xuất để xây thêm một bể chứa tập trung, xử lý hết chất độc hại trước khi xả ra ngoài. Đến nay, đầu ra của nước thải từ Hải Việt đã đạt chuẩn loại A.

“Các sở, ban ngành địa phương phải hết sức gương mẫu trong việc giám sát, kiểm tra, có biện pháp mạnh mẽ, rút giấy phép kinh doanh, chứ không để tình trạng vi phạm kéo dài”, ông Chinh đề nghị.

Là người gắn bó với ngành công nghiệp nặng, từng ngày nhìn thấy dòng sông Thị Vải đang hồi sinh khi Vedan ngưng xả chất độc hại, ông Đỗ Duy Thái, tổng giám đốc công ty Thép Việt đặt vấn đề: “Tại sao suốt mười năm qua Vedan qua mặt được pháp luật?”. Theo ông Thái, vấn đề lớn nhất cần thay đổi không phải tìm ra doanh nghiệp nào vi phạm, mà phải tìm ra ai đã đứng đằng sau, bảo kê cho việc đó. Tại Thép Việt, chúng tôi đã chọn công nghệ bảo vệ môi trường của châu Âu, nên nước được hoàn nguyên. “Ý thức về môi trường là nền tảng đúng để doanh nghiệp phát triển. Bản thân tôi đã nói với cả nhà là đừng bao giờ dùng bột ngọt Vedan, đó là cái giá lớn nhất mà doanh nghiệp phải trả”.

Để tránh tình trạng rất nhiều doanh nghiệp vi phạm luật, ông Lê Như Ái đề xuất: “Cần công khai những doanh nghiệp vi phạm luật qua các phương tiện truyền thông để người dân được biết và có thái độ cương quyết với sản phẩm đó”. Theo chuẩn mực quốc tế, để xuất khẩu sản phẩm gỗ sang nước ngoài, nhà sản xuất phải chứng minh nguồn nguyên liệu là gỗ trồng, chứ không phải gỗ khai thác tự nhiên. Thế nhưng có không ít doanh nghiệp vẫn “đánh lận con đen”.

“Tôi luôn ý thức biến 200 nhân viên của mình thành 200 gia đình tốt. 200 công dân tốt, có ý thức bảo vệ môi trường, vệ sinh cá nhân và phong cách sống đẹp. Khi mỗi công dân ý thức được bảo vệ môi trường, thì xã hội mới phát triển bền vững”, ông Ái nói.

  • Kim Yến – Ngân Hà (Theo Sài Gòn Tiếp Thị)

Ông Đặng Quốc Toản, tổng giám đốc công ty năng lượng dầu khí châu Á đưa ra giải pháp cụ thể để tiết kiệm năng lượng: “Chính Thủ tướng Nhật Koizumi đã kêu gọi và làm gương cho cả nước Nhật chỉ sử dụng điều hoà nhiệt độ khi trời quá nóng trên 250C. Thay bóng đèn sợi đốt bằng bóng đèn compact. Sử dụng hệ thống đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời, các thiết bị tiết kiệm năng lượng, điện gió ở quy mô lớn và quy mô nhỏ, cung cấp điện cục bộ cho từng khu vực dùng cho chiếu sáng, cho thông tin liên lạc, cho đèn đường, cho công viên, toà nhà, khách sạn, biệt thự… Đó là những hành động thiết thực cần làm ngay, là lương tâm và trách nhiệm của chúng ta đối với đất nước”.

Tại TP.HCM, trong số 935 doanh nghiệp đang hoạt động ở 12 khu công nghiệp và ba khu chế xuất, có đến 230 doanh nghiệp phát sinh nước thải với quy mô lớn nhưng chỉ có 81 doanh nghiệp có hệ thống xử lý nước thải. Theo thống kê của ban Quản lý các khu công nghiệp Việt Nam, tính đến hết năm 2008, cả nước có gần 200 khu công nghiệp (đang vận hành, xây dựng cơ bản lẫn đăng ký đầu tư).

Con số ấn tượng về sự gia tăng của các khu công nghiệp cũng đồng nghĩa với những lo ngại về ô nhiễm môi trường.


Bữa tiệc xanh

“Đây là một trong những bữa tiệc tuyệt vời và ý nghĩa nhất mà tôi có được” – H.Anh, sinh viên đại học Bách khoa TP.HCM, đã không kìm được cảm xúc sau khi bước ra khỏi tòa nhà 138 Tôn Thất Đạm (TP.HCM) cuối tháng 9 vừa qua.

Cùng cảm xúc đó, cô Jenny người Đức và những người bạn của mình cũng không ngớt tán thưởng: “Ngoài những kiến thức về môi trường bổ ích được cung cấp, chúng tôi không chỉ có cơ hội làm quen mà còn tranh luận trực tiếp với rất nhiều bạn trẻ VN. Điều mà trước đây tôi không bao giờ nghĩ tới!”. Như để chứng minh cho lời nói của mình, Jenny chìa ra những tấm danh thiếp và tờ giấy trên đó có ghi nắn nót những cái tên Việt với số điện thoại, email…

Họ đang nói về Green Drinks…

Các thành viên thảo luận hào hứng về chủ đề môi trường dù họ chưa từng quen biết nhau - Ảnh: Công Nhật

Các thành viên thảo luận hào hứng về chủ đề môi trường dù họ chưa từng quen biết nhau - Ảnh: Công Nhật

Green Drinks (GDs – tạm dịch “tiệc xanh”) là một sự kiện phi lợi nhuận dưới hình thức tiệc nhẹ, nơi mọi người có thể tìm đến với mục đích giao lưu, kết bạn, đồng thời cùng nhau thưởng thức các thức uống không cồn và nghe thuyết trình, thảo luận về các vấn đề liên quan đến môi trường.

Mô hình GDs không xa lạ với nhiều quốc gia phát triển trên thế giới. Được khởi đầu bởi nhà sinh vật học Edwin Datschefski và bạn bè của ông vào năm 1989 tại London, GDs đã nhanh chóng trở thành một “hiện tượng” khi kết hợp thành công giữa khoa học và giải trí. Hiện GDs đã xuất hiện ở hơn 600 thành phố trên thế giới.

Và đây là lần đầu tiên GDs xuất hiện tại VN.

Simon Christy – giám đốc Công ty VEO, đồng tổ chức GDs – cho biết sở dĩ ông giới thiệu mô hình sinh hoạt cộng đồng này đến VN vì sau sáu năm sinh sống tại VN, ông nhận thấy nhiều người không hề biết rằng ô nhiễm môi trường cũng có thể bị ảnh hưởng bởi những thói quen dù là nhỏ nhất của mình.

Buổi tiệc xanh đầu tiên tại TP.HCM đã cho thấy những kiến thức cơ bản về biến đổi khí hậu có liên quan trực tiếp đến VN lại lạ lẫm với hầu hết bạn trẻ Việt tham dự chương trình. Và thật mâu thuẫn khi bắt gặp nhiều người bạn nước ngoài đứng dậy phân tích một cách rành mạch các hiện tượng liên quan đến môi trường VN.

Nghe hai bài trình bày ngắn gọn “Chúng ta nghĩ gì về môi trường của chúng ta?” của Ralf Mattheus – giám đốc quản lý Công ty TNS, và “Sự thay đổi khí hậu tại đồng bằng sông Cửu Long” của tiến sĩ Lê Thành Sang – phó giám đốc Viện Nghiên cứu phát triển miền Nam, cử tọa phần nào cảm nhận được thực trạng không mấy khả quan về môi trường sống của mình.

Mọi người cũng sửng sốt trước những câu hỏi bất ngờ: “Mười người tiêu dùng tại VN khi được phỏng vấn cho biết họ sẵn sàng mua sản phẩm có lợi cho môi trường dù giá có mắc hơn bình thường, nhưng thực tế liệu có được đến ba người làm chuyện đó?”, hay “Nên nghĩ sao khi bước vào một lớp chuyên ngành mà dưới sàn lại đầy rẫy rác…?”. Cũng có không ít tiếng thở dài vang lên.

Ngay sau đó, câu chuyện thời sự bão lũ miền Trung cũng như vai trò của bản thân trong việc ngăn chặn, hạn chế sự ô nhiễm bỗng trở thành đề tài “hot” để mọi người cùng thảo luận. Không khí bỗng im bặt khi một câu hỏi được nêu ra: “Khi con người tiếp tục hủy hoại Trái đất như hiện tại thì đời con cháu của chúng ta sẽ gánh hậu quả như thế nào?”.

Câu hỏi này có lẽ sẽ còn đọng mãi trong suy nghĩ của nhiều người sau buổi tiệc xanh lần này.

Bạn có bao giờ nghĩ tới câu hỏi này?

  • Công Nhật (Theo Tuổi Trẻ Online)

Thương lắm Hà Nội ơi

Tôi không phải là người Hà Nội gốc. Có lẽ vì thế mà nhiều người bảo tôi không có cái cốt cách của người Hà Nội. Tôi không phủ nhận. Nhưng tôi vẫn yêu Hà Nội, tình yêu đối với một Thủ đô thiêng liêng ngàn năm văn hiến. Và rồi tôi cũng chạnh lòng trước những trăn trở thường nhật của người Hà Nội. Thương lắm Hà Nội ơi!

Thương lắm Hà Nội ơi! Nguồn: vietbao.vn

Thương lắm Hà Nội ơi! Nguồn: vietbao.vn

Thời còn học phổ thông, ao ước lớn nhất của tôi là được một lần đặt chân tới Hà Nội (mặc dù quê tôi cách Hà Nội có hơn 60 cây số). Thích thú biết bao khi được sải bước trên những con đường lộng gió thênh thang, được dạo chơi trên những con phố cổ, ngắm hồ Gươm xanh, những toà nhà cao vút… Hà Nội trong mắt tôi ngày ấy vừa hiện đại nhưng cũng rất cổ kính, nơi mà ta có thể sống cho cả quá khứ và cả tương lai.

Lên đại học, tôi như thoả được niềm mong ước ngày nào. Háo hức như một đứa bé thơ, tôi sục sạo khắp phố phường Hà Nội, tìm hiểu và khám phá Hà Nội một cách  say mê và thích thú. Nhưng rồi bỗng hụt hẫng, chênh chao. Những cảm xúc tươi mới qua đi thật chóng vánh.

Những nét đẹp hoài cổ, dịu dàng của Hà Nội chỉ thoáng qua như những cơn gió heo may, thật mỏng manh và yếu đuối. Những nét tân tiến mà dở dang, hổ lốn, khập khiễng học đòi, đâu đâu cũng có thể bắt gặp như muốn xua đuổi cái dĩ vãng ngọt ngào đã qua. Để rồi đứng giữa cái “hiện đại” trọc phú và nét đẹp cổ điển chưa hết phôi pha ấy, tôi bỗng nhận ra một diện mạo Hà Nội ngổn ngang, khó gọi rõ tên và đầy trăn trở.

Thương lắm Hà Nội ơi! Còn đâu nữa những “phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu”. Những di tích lịch sử, văn hoá bị xà xẻn đến tận chân tường bờ gạch. Bây giờ nhà bê tông, mái sắt…thật vững chãi mà sao cứ thấy u hoài. Những ngôi nhà không hình thù, không bản sắc cứ thụt thò lố nhố như những khuôn mặt nửa cười nửa mếu, nửa khôn nửa dại.Còn chung cư, biệt thự xây xong lại “để mặc gió lung lay”. Để rồi những làng lúa làng hoa ngậm ngùi không biết đi đâu, về đâu.

Những cung đường ngày nào cũng “bội thực”, người, xe như đàn kiến chạy loạn. Mỗi lần ra khỏi nhà  lại thấy lo lo. Xe phóng như điên, như vào chỗ không  người, xe trèo qua rào chắn, xe bò qua lan can, tràn lên vỉa hè, xe này lấn đường của xe kia…

Bởi tại vì đâu khi đường cứ đột ngột thắt lại như chiếc cổ chai, còn ổ gà thời công nghiệp cứ to như ổ khủng long vậy. Đường tắc đã trở thành chuyện thường ngày ở mỗi con phố. Lại còn đất, cát, vật liệu ở đâu cứ tuôn xuống lòng  đường. Để bụi đất cứ mải miết  bay mù mịt. Vỉa hè mà chẳng thể dành cho người đi bộ…Sáng dẹp, chiều lại lấn chiếm.

Thương lắm Hà Nội ơi! Hình như khoảng cách giàu nghèo đang nới rộng thêm hay sao ấy? Có phải thế không mà biệt thự ngày càng nhiều, ô tô sang trọng ngày càng nhiều, nhà hàng, khách sạn cũng ngày càng nhiều trong khi “chợ người tìm việc” ở vỉa hè cũng ngày càng đông, đủ mọi lứa tuổi. Trẻ có, ương ương có, và già cũng có. Nhiều mái nhà lụp xụp, tạm bợ vẫn mọc lên bên cạnh những toà nhà chọc trời.

Những cơn mưa chưa kịp làm vơi đi nỗi khát làm không khí dịu mát đã vội vàng chất chứa những âu lo. Lụt lội, ô nhiễm, kẹt xe…Những cống thoát nước như những cụ già hen suyễn cứ ho sù sụ mỗi khi mưa về.

Rác ngập tràn trên phố. Rác tràn xuống lòng đường. Và như một thói quen, lòng đường trở thành nơi đổ rác. Những mảnh tường của những ngôi nhà sơn quét mịn màng lại nhằng nhịt những tờ rơi, quảng cáo nham nhở tầng tầng lớp lớp: Thuê gia sư, trộn bê- tông, hút bể phốt…

Thương lắm Hà Nội ơi! Có sông mà chẳng thể ra hóng mát, bởi vì sông còn đâu? Sông đã chết. Thương lắm Hà Nội ơi! Sao vẫn còn những cái tên nghe lạ lùng mà tôi bỗng thấy choáng ngợp, thấy hài hước và hổ thẹn khi một người khách nước ngoài hỏi: “Đến phố CAM DAI BAY đi đường nào”.

Còn  biết bao nhiêu cái thương nữa mà tôi không kịp nhớ hay không thể nhớ  hết mà viết ra đây. Bời vì đâu mà Hà Nội lại phải chịu những điều như vậy. Có phải tại tạo hoá đã sinh ra một Hà Nội vốn như thế ? Không! Vậy thì chỉ bởi chính chúng ta – những người đang hàng ngày sinh sống trên mảnh đất thương yêu này. Sự tham lam, ích kỉ, bon chen…của mỗi cá nhân; thói vô cảm, dốt nát và kém cỏi trong quản lý đã vô tình hay hữu ý làm tổn thương Hà Nội.

Gía như người ta biết trân trọng hơn những cái gì thuộc về lịch sử, về văn hoá thì nhiều ngôi đình, đền chùa, miếu mạo đâu đến nỗi phải kêu than. Gía như người ta biết quan tâm  gìn giữ thì những mái ngói cổ kính, những nếp nhà đơn sơ phố cổ cũng chẳng bị lãng quên giữa chốn thị thành hiện đại.

Và giá như người ta đừng chạy theo những cái gọi là “mốt” để rồi phá bỏ đi những cái thuộc về truyền thống gia đình, dòng họ, về qúa khứ. Để lớp lớp con cháu sau này còn biết đến, cái này… là do đôi tay tài hoa của cha ông làm ra, cái này…đã một thời làm nên nét văn hoá của Thăng Long- Hà Nội.

Gía như những nhà quản lý, hoạch định chính sách, những người xây dựng có trách nhiệm, có tâm và có tầm hơn. Để phố được là phố, nhà được mang dáng hình nhà thì phố và nhà đâu có dở khóc dở cười như vậy. Để rồi đường không phải là nơi “gà ấp trứng”, nơi trưng bầy chướng ngại vật, barie và “nghệ thuật sắp đặt”.

Để công trình khỏi bị “rút ruột”, dự án đừng bị “treo”, đường khỏi bị “nắn”…Có viển vông quá không, có bi quan quá không, khi thỉnh thoảng lại nghe thông tin về vị này tham ô, vị này nhận hối lộ, chỗ kia có tham nhũng, chỗ nọ có lãng phí…mà vụ sau cứ lớn hơn vụ trước.

Giá như những người giàu biết quan tâm đến những người nghèo hơn, những người nghèo biết chịu khó và nghị lực hơn, đừng ỉ lại, tự ti, hay buông xuôi thì chắc sẽ không có những cảnh “kẻ ăn không hết, người lần không ra” nữa. Và khi mỗi trái tim đều biết lên tiếng trước những xấu xa bạo ngược thì sẽ không còn cảnh những em bé bị bạo hành nữa. Để Hà Nội mãi là một thành phố vì hoà bình như chúng ta vốn tự hào.

Giá như mỗi người dân có ý thức hơn, tuân thủ pháp luật khi tham gia giao thông, thì đâu đến nỗi phải chịu cảnh tắc đường, tai nạn chết người. Người ta sống cả đời chứ có phải sống chỉ vài giây, vài phút. Nhưng ai cũng muốn đi trước, ai cũng muốn hơn, ai cũng muốn thắng, ai cũng muốn “khẳng định” cái tôi của mình trên đường phố, mà bất chấp cả luật lệ.

Giá như người ta đừng tham lam, ích kỉ có nhà mặt phố nhưng vẫn cố chiếm nốt cái vỉa hè nhỏ nhoi kia. Để hè phố là hè phố, cho người đi bộ thong dong, chứ không phải là nơi bày biện hàng quán, nơi chất rác thải, đổ vật liệu xây dựng. Để những cơn mưa cứ mãi là  những kỉ niệm đẹp chứ không phải là nỗi lo âu, ngao ngán.

Giá như mỗi nhà có ý thức hơn, đừng đem rác đổ ra lòng đường. Mỗi người có ý thức vệ sinh chung, bỏ rác vào thùng có phải phố xá sẽ đẹp hơn không. Điều này có khó lắm không khi việc làm đó không chỉ là hành vi cần có của con người văn minh, văn hoá, mà còn là để  bảo vệ môi trường sống của chúng ta.

Rồi lại ước giá như đừng phải đi cả vài cây số tìm mỏi mắt mới thấy một thùng rác, có phải tốt hơn không. Và giá như những gánh hàng rong cứ giữ mãi cái nét thơ mộng như nó đã từng có, đừng vội vã bước đi để lại toàn là rác(!)

Rồi giá như những ai đó đừng mải mê với những dự án sân gôn, biệt thự mà hãy xem đã có nhà máy xử lý nước thải trong thành phố hay chưa? Hay nước bẩn, nước thải cứ ào ạt đổ ra  sông. Để rồi sông không còn là sông mà trở thành “kẻ huỷ diệt” sự sống vậy. Và những “nỗi buồn không ai giống ai” được giải quyết kịp thời khi nhà vệ sinh công cộng không còn thiếu và bẩn, thì làm gì còn những tên phố trong những câu chuyện “tiếu lâm” hàng ngày  có cái tên là “CAM DAI BAY”.

Giá như sông Tô Lịch trong xanh trở lại.

Giá như đường lại thông, hè lại thoáng.

Giá như có những tuyến đường chỉ dành riêng cho người đi bộ trong thành phố. Giá như…

Chỉ một điều “Giá như” thôi  thành hiện thực, có lẽ Hà Nội của chúng ta sẽ đẹp hơn rất nhiều.

Thương lắm Hà Nội ơi!

  • Đình Quang (Theo tuanvietnam.net)

Tốt đẹp phô ra, xấu xa quét dọn

Người Việt xưa có câu: “Tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại”, giờ chúng ta nên thực hiện: Tốt đẹp phô ra, còn xấu xa thì hãy quét dọn. Chứ còn đậy lại, úm ba la thì ai phải ngửi?

Cái lý mà người Việt theo đuổi là “Đạo lý làm người”. Dân tộc Việt là một dân tộc rất yêu đạo lý với phương ngôn không còn chỗ nấp nào cho những thứ ậm ừ: “Nói phải củ cải cũng nghe”.

Người Việt cũng nói: “Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng”, “Ăn ngay nói thật, mọi tật mọi lành”. Đấy, chỉ bằng câu mộc mạc như vậy đã khẳng định “sự thật” là thuốc thần để chữa bách bệnh. Rồi “Thật thà là cha quỉ quái”, “Ở quỉ gặp quái, gian tà gặp nhau”.

Ở đời, đức tin có trước mọi tôn giáo, vì không có đức tin làm sao có tôn giáo? Và sự phân biệt tốt – xấu có trước mọi môn đạo đức học. Và người Việt đã đặt ra nền tảng tốt – xấu, hơn thế còn chỉ ra cái xấu để tránh, cái tốt để theo, nghĩa là người Việt đã dấn bước vào phạm trù đạo đức học. Vì thế, có ý kiến cho rằng: Khi ta nói về cái xấu của dân tộc là ta say sưa cái xấu đó, nói vậy là phiến diện.

Mới đây tại Malaysia, cả nước tổ chức ngày “toa lét”, muốn giáo huấn toàn dân ý thức đi vệ sinh và giữ vệ sinh chung, để giữ sức khỏe cộng đồng và hấp dẫn du lịch. Khi người ta chú mục đến vấn đề toa lét, đâu có phải là say sưa với nó, mà để giữ cho cơ thể trong sạch hơn.

Người Việt xưa có câu: “Ăn hết nhiều, ở hết bao nhiêu”, xây nhà thì chỉ chú ý xây gian giữa, còn cái khoản nhà vệ sinh thì quấy quá cho xong; phải nói, cách nghĩ đó đã quá lạc hậu, giờ đây người hiện đại đã nói ngược lại: “Ở hết nhiều, ăn hết bao nhiêu”. Và một ngôi nhà sang trọng thực sự, thì khu phụ được xây dựng hết sức tốn kém, nào đá lát sàn, lát tường, bồn tắm, vòi phun nóng lạnh…

Đây là hình ảnh mộc mạc và hiện đại để chính ta liên tưởng rằng: Càng chú mục để dẹp cái bẩn thì con người chúng ta càng sạch sẽ và lành mạnh. Trái lại, càng lờ cái bẩn đi, thì người ta sẽ bôi bẩn khắp nơi từ nhà ra ngõ đến tận quảng trường.

Một xã hội càng có nhiều người dám nhìn ra cái xấu, tức là càng muốn sửa mình, tức càng có nhiều người tình nguyện làm nghề vệ sinh quét dọn, càng làm cho khuôn mặt của xã hội tươi tắn hơn.

Người Việt xưa có câu: “Tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại”, giờ chúng ta nên thực hiện: Tốt đẹp phô ra, còn xấu xa thì hãy quét dọn. Chứ còn đậy lại, úm ba la thì ai phải ngửi? Có làm được như vậy, chúng ta mới thực hiện: Con hơn cha để nhà có phúc.

  • Nguyễn Đình Đức (Theo Tiền Phong)

Bệnh thi đua

Hồi học ở cấp 1 phổ thông mười năm, tôi nhớ việc thi đua rất đơn giản mà hiệu quả. Hàng tháng thầy giáo cộng điểm chia trung bình rồi chọn ra ba trò nhất nhì ba. Bức tường nơi bục giảng thầy ngồi, có một tấm bìa đề ba chữ “bảng danh dự”.

Ba trò nhất nhì ba lần lượt vào các vị trí cao thấp trên đó. Hết tháng, danh sách có khi lại thay đổi vì có những trò khác vươn lên. Hết năm thầy chọn trong nhất nhì ba ấy để lấy ra ba trò nhất nhì ba để khen thưởng.

Phần thưởng thời cách đây gần sáu mươi năm chẳng có gì ngoài cây bút mục và vở tập. Lớp ấy chúng tôi lớn lên đi kháng chiến, được đào tạo nhiều người thành đạt và đóng góp khá nhiều cho đất nước.

Ảnh minh họa

Cái cách thi đua thực tế và lặng lẽ đó hóa ra rất chính xác và công bằng. Thầy không phát động thi đua rầm rĩ, chỉ bảo thế này: “Các trò cố lên, các em học cho mình để sau này có kiến thức làm việc”. Còn về nhà thì mẹ bảo “học được thì ấm vào thân, phải tự cố gắng”.

Sau này chuyện thi đua đi vào đời sống, cơ quan nào cũng có ban có bệ, đăng kí thi đua. Có đóng góp sáng kiến xuất sắc nhưng không đăng kí từ đầu năm thì cũng… “out”. Bây giờ nhiều ý kiến lên án bệnh thành tích. Lên án nhưng chẳng giải quyết được gì vì cái tiêu cực này do các ban thi đua đẻ ra.

Nói thế chẳng lẽ lại không có thi đua. Tôi cho rằng cách làm thi đua của thầy tôi xưa hóa ra là tiên tiến, dù khá lặng lẽ nhưng nó thực tế. Ở Nhật, ngoài kỉ luật lao động nghiêm minh, họ cộng những sáng kiến, những ý kiến đóng góp từng tháng, từng năm đem lại hiệu quả chuyển biến cho cơ sở để thưởng và tăng lương. Bây giờ nhiều cơ quan trao phần thưởng, nhưng nhiều giải thưởng không được coi trọng vì nó ứ thừa và quá dễ dãi, thậm chí còn mua được.

Ai cũng kêu bệnh thành tích là nặng nề, nhưng các cơ quan chức năng lại không tích cực tìm biện pháp triệt tận gốc. Như chống tham nhũng, nếu coi chuyện thất thoát hàng tỉ đồng, lãng phí hàng tỉ đồng là đã nhấn chìm bao nhiêu cuộc đời những người đóng thuế, tội ấy có khác gì chuyện giết người từ từ thì mới giải quyết được tận gốc tham nhũng.

Chỉ nói bệnh thi đua, nếu không chịu cải tổ mô hình và những cách làm cũ kĩ thì sẽ khó có thể chuyển biến mạnh mẽ. Nguy lắm thay!

  • Theo Đỗ Đức (Thể thao văn hóa)

Ký ức rừng

Tôi không biết những cánh rừng mất đi có đem lại ấm no, hay giá trị hơn hẳn nó cho quê hương hay không. Tôi chỉ biết rằng mất rừng, nhiều thế hệ người Việt Nam sau này không biết đến những giá trị của rừng nguyên sinh, khi rừng còn bao phủ nhiều vùng miền quê tôi.

Nhìn bé “Bằng Lăng” đứng khép nép với những chiếc lá đỏ hoe như đôi mắt đầy nước, sắp nhỏ xuống những giọt buồn bã côi cút, bên hè một ngôi nhà, lòng tôi rưng rưng thương cảm và bất chợt nỗi nhớ về một cánh rừng Bằng Lăng thắm đỏ, dâng tràn tâm tư. Có lẽ, ít người Việt Nam biết rằng: vào mùa này, cái thời điểm thu đang dùng dằng từ biệt và mùa đông vừa mới ngấp nghé nơi chân trời, thì trên những cánh rừng nhiệt đới miền Đông của nước ta, từng có vùng lá đỏ đẹp không thua kém bất kỳ cánh rừng nào. Trong đó, có cánh rừng bằng lăng?

Vào thập niên 70 của thế kỷ trước, (nói nghe có vẻ xa lắc, xa lơ nhưng thật ra thời gian mới chỉ bằng một cậu bé từ sinh ra và trở thành người đàn ông đúng nghĩa ở tuổi ba mươi). Vào một ngày của mùa này, tôi và vài người nữa đã lang thang ở cánh rừng phía Đông của dòng sông Đồng Nai. Chúng tôi hăm hở băng qua nhiều cánh rừng cốt để tìm một rừng tre, lồ ô nguyên sinh. Có lúc, chúng  tôi đi trên những lối mòn, có lúc, cứ nhìn mặt trời rồi nhắm hướng tây mà cắt. Hết một cánh rừng là mảng cỏ xanh non, màu xanh ngọt mướt, sức sống tràn đầy ngồn ngộn trên những khu đầm lầy. Hết đầm, tiếp giáp một cánh rừng khác. Bất ngờ, chúng tôi lọt vào một cánh rừng Bằng Lăng bạt ngàn. Chao ôi! Bừng bừng một  trời lá đỏ! Nhìn lên, không gian như cháy sáng bởi ngọn lửa từ sắc hừng  của lá thắm vừa dịu dàng, vừa nồng nàn, và cũng vô cùng miên man.

Chúng tôi rạo rực bước lang thang trong cánh rừng Bằng Lăng, chẳng còn ai chú ý đến đám vắt ngoe nguẩy trong lớp lá mục, có lúc, chúng cắn no nơi bắp chân rồi lăn cái mình đã  tròn căng, bóng lưỡng rớt xuống mặt lá chết. Bởi những cây bằng lăng thẳng vút, to hai người choàng tay không hết, hoặc nhỏ hơn một chút, thân sáng trắng, vươn những cánh tay khỏe khoắn như muốn chống đỡ bầu trời xanh. Bên trên cánh rừng, những khoảng sáng, hệt như các cánh cửa mở vào một lối thiên thai nào đó. Cánh rừng Bằng Lăng hùng tráng, rưng rưng những cánh lá đỏ chấp chới đã hớp hồn chúng tôi.

Thật lạ, bên dưới tán rừng Bằng Lăng rất thoáng, chỉ một lớp cỏ mọc thấp, chứ không chằng chịt cây non như loại rừng khác. Vì vậy, những  cơn gió bay qua, lớp lớp lá đỏ chòng chành rời cành bay lảo đảo, rồi nhẹ nhàng đậu thiêm thiếp trên mặt đất. Những chiếc lá thu hết tàn lực, tự cháy lên sự khát khao được đẹp lần cuối cùng, trước khi hóa kiếp.

Về sau, tôi còn biết rằng, trong số những cây Bằng Lăng quí giá của cánh rừng nọ, có những thân là Bằng Lăng bông lau, gỗ trắng, vân hồng, thịt mịn đẹp tuyệt vời! Ngày nay, những miếng gỗ Bằng Lăng bông lau có đường kính từ nửa mét trở lên, chỉ có mặt trong những bộ đồ gỗ ở những gia đình lắm tiền, nhiều của. Nhưng lúc đó, tất cả chúng tôi chỉ lo ngắm lá đỏ đang cháy rực trên bầu trời, lòng trào dâng một niềm tự hào khôn tả về quê hương, đất nước.

Vào những năm đầu thập niên 80, tôi thường xuyên qua lại trên con đường mòn từ ngã ba Lăng Minh qua Sông Rây, quẹo về Bàu Lâm, xuôi xuống Hòa Bình, Bà Tô, gần đến Bà Rịa – Vũng Tàu (ngày nay, con đường này có đoạn trở thành đường tỉnh lộ, đường quốc lộ, đẹp nhất nước). Nhưng khi đó, đoạn từ Sông Rây đến Bàu Lâm toàn đi qua rừng già.

Con đường như một sợi chỉ mỏng manh đỏ ngầu, bò len lỏi giữa những cánh rừng nguyên sinh trùng trùng. Nhưng những cánh rừng ấy long lở từng giờ. Máy ủi, máy cưa, máy cày gầm rú ầm ầm trong cơn khát khao đốt phá. Khói đốt rừng bốc lên nghi ngút mù trời. Những cây gỗ quí như Lim, Cẩm lai, Gõ đỏ, Bằng Lăng, Trai… nếu may mắn thì theo xe buôn gỗ đi muôn nơi, nhưng không ít bị vứt vào ngọn lửa đốt  rừng hối hả. Còn những gốc mai hàng trăm năm tuổi thì gần như chẳng ai đoái hoài gì đến, chúng ngậm ngùi thành tro trong lặng lẽ cùng trăm ngàn loài cây rừng khác.

Người ta đốt, người ta cày xới, người ta đốn hạ những cánh rừng nguyên sinh hấp tấp, hối hả, mau mau. Những cánh rừng thiên nhiên mất hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm kiến tạo, chỉ trong nháy mắt cuộc đời đã bay hơi như chưa từng hiện diện bao giờ. Mỗi ngày, hàng trăm héc ta rừng đổ nghiêng, bật gốc rồi cháy rụi. Sức tàn phá của con người so với bão táp của trời đất, thì kinh khủng hơn gấp ngàn lần. Tốc độ đó đã làm cho muôn thú trong rừng không lối thoát, phần lớn, chúng bị dồn vào con đường tuyệt chủng vì mất nhà ở, mất nơi kiếm sống, như bầy voi chẳng hạn.

Tại những cánh rừng huyện Xuyên Mộc, vào những năm 1983 – 1984, từng có voi sa vào hố bom ngay trên đất mới phá rừng. Ban ngày, hàng trăm người tụ tập đến gần để xem con voi mắc nạn, có người còn mang đến hàng vác mía từ nông trường Sông Rây cho chúng ăn, mặc dù bầy voi lẩn quẩn đâu đó vì không nỡ bỏ con voi kém may mắn, chúng cất tiếng hú gọi đầy phẫn uất và bi thương.

Cuối cùng, người ta cũng tìm được cách giúp con voi lên khỏi hố bom. Cả bầy voi đã phủ phục bái tạ trước khi kéo nhau bỏ đi. Với tôi, đàn voi đó có lẽ chính là đàn voi cuối cùng về sau đã tụ tập về khu rừng núi Ông – Tánh Linh – Bình Thuận, bởi vì cả một vùng miền tiếp giáp từ Bình Châu, Xuyên Mộc, Xuân Lộc, Hàm Tân và Tánh Linh chạy liền đến dưới chân những dãy Trường Sơn hùng vĩ ngăn chia Bình Thuận với Tây Nguyên ở cuối phía Nam. Bây giờ, rừng đã co cụm lên núi cao, và ngay cả nhiều đồi núi trên Trường Sơn ở khu vực này cũng đã trọc lóc, từ dưới nhìn lên, núi cứ đỏ loang như máu chảy, chứ không xanh mịt mùng như mấy chục năm trước.

Những cánh rừng toàn bộ của khu vực trên giờ đã là những nông trường, những công ty cao su, trong số đó phần lớn đã cổ phần hóa tư nhân, bởi vì nhiều đơn vị quốc doanh từng làm ăn thua lỗ.

Tôi có nhiều chuyến lang thang bên dưới những cánh rừng cao su, trong đó có chuyến đi tìm một huyền thoại đã chết, huyền thoại về một con voi trắng. Trong nhân gian nhiều vùng ở Tây Nguyên và miền Đông từng đồn thổi rằng, vua Bảo Đại sau khi thoái vị về sống ở Đà Lạt từng nuôi một con voi trắng. Khi gia đình ông rời Việt Nam đã thả con voi trắng về rừng và trên cổ nó có mang vật kỷ niệm đó là một sợi xích bằng vàng?

Chuyện hư thực ra sao không biết, nhưng người dân sống ở gần đồi Bảo Đại, ngọn đồi này nằm ở phía tây, thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, nơi tiếp giáp với những cánh rừng của ba tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Thuận. Ngọn đồi trước đó được đặt tên là đồi Con Sò, những năm 1952 – 1953, quốc trưởng Bảo Đại đến đây săn bắn và nghỉ lại trên đỉnh đồi, từ đó, người dân vùng này gọi tên đồi thành đồi Bảo Đại cho đến ngày nay. Khi rừng còn vây bọc bình nguyên chung quanh ngọn đồi, nhiều người dân nơi này chỉ vào những  dấu chân voi về làng, rồi thì thầm rằng dấu chân ấy chính là của “ngài voi trắng”.

Huyền thoại con voi trắng từng khoác lên mình những cánh rừng nhiệt đới miền Đông, rừng giáp ranh Tây Nguyên một vẻ đẹp lãng mạn, bí ẩn. Nhưng nay rừng chỉ còn trong ký ức, con voi trắng cũng chẳng có nơi nào trú ẩn, câu chuyện chết trong nối tiếc của bao người.

Tôi không phải là một nhà chiến lược, càng không am hiểu về kinh tế, chẳng biết gì về khoa học. Những cánh rừng mất đi có đem lại ấm no, hay giá trị hơn hẳn nó cho quê hương hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết rằng mất rừng, nhiều thế hệ người Việt Nam sau này không biết đến những giá trị của rừng nguyên sinh, khi rừng còn bao phủ nhiều vùng miền quê tôi.

  • Minh Nhựt ( Theo tuanvietnam.net)