Bệnh thi đua

Hồi học ở cấp 1 phổ thông mười năm, tôi nhớ việc thi đua rất đơn giản mà hiệu quả. Hàng tháng thầy giáo cộng điểm chia trung bình rồi chọn ra ba trò nhất nhì ba. Bức tường nơi bục giảng thầy ngồi, có một tấm bìa đề ba chữ “bảng danh dự”.

Ba trò nhất nhì ba lần lượt vào các vị trí cao thấp trên đó. Hết tháng, danh sách có khi lại thay đổi vì có những trò khác vươn lên. Hết năm thầy chọn trong nhất nhì ba ấy để lấy ra ba trò nhất nhì ba để khen thưởng.

Phần thưởng thời cách đây gần sáu mươi năm chẳng có gì ngoài cây bút mục và vở tập. Lớp ấy chúng tôi lớn lên đi kháng chiến, được đào tạo nhiều người thành đạt và đóng góp khá nhiều cho đất nước.

Ảnh minh họa

Cái cách thi đua thực tế và lặng lẽ đó hóa ra rất chính xác và công bằng. Thầy không phát động thi đua rầm rĩ, chỉ bảo thế này: “Các trò cố lên, các em học cho mình để sau này có kiến thức làm việc”. Còn về nhà thì mẹ bảo “học được thì ấm vào thân, phải tự cố gắng”.

Sau này chuyện thi đua đi vào đời sống, cơ quan nào cũng có ban có bệ, đăng kí thi đua. Có đóng góp sáng kiến xuất sắc nhưng không đăng kí từ đầu năm thì cũng… “out”. Bây giờ nhiều ý kiến lên án bệnh thành tích. Lên án nhưng chẳng giải quyết được gì vì cái tiêu cực này do các ban thi đua đẻ ra.

Nói thế chẳng lẽ lại không có thi đua. Tôi cho rằng cách làm thi đua của thầy tôi xưa hóa ra là tiên tiến, dù khá lặng lẽ nhưng nó thực tế. Ở Nhật, ngoài kỉ luật lao động nghiêm minh, họ cộng những sáng kiến, những ý kiến đóng góp từng tháng, từng năm đem lại hiệu quả chuyển biến cho cơ sở để thưởng và tăng lương. Bây giờ nhiều cơ quan trao phần thưởng, nhưng nhiều giải thưởng không được coi trọng vì nó ứ thừa và quá dễ dãi, thậm chí còn mua được.

Ai cũng kêu bệnh thành tích là nặng nề, nhưng các cơ quan chức năng lại không tích cực tìm biện pháp triệt tận gốc. Như chống tham nhũng, nếu coi chuyện thất thoát hàng tỉ đồng, lãng phí hàng tỉ đồng là đã nhấn chìm bao nhiêu cuộc đời những người đóng thuế, tội ấy có khác gì chuyện giết người từ từ thì mới giải quyết được tận gốc tham nhũng.

Chỉ nói bệnh thi đua, nếu không chịu cải tổ mô hình và những cách làm cũ kĩ thì sẽ khó có thể chuyển biến mạnh mẽ. Nguy lắm thay!

  • Theo Đỗ Đức (Thể thao văn hóa)

Ký ức rừng

Tôi không biết những cánh rừng mất đi có đem lại ấm no, hay giá trị hơn hẳn nó cho quê hương hay không. Tôi chỉ biết rằng mất rừng, nhiều thế hệ người Việt Nam sau này không biết đến những giá trị của rừng nguyên sinh, khi rừng còn bao phủ nhiều vùng miền quê tôi.

Nhìn bé “Bằng Lăng” đứng khép nép với những chiếc lá đỏ hoe như đôi mắt đầy nước, sắp nhỏ xuống những giọt buồn bã côi cút, bên hè một ngôi nhà, lòng tôi rưng rưng thương cảm và bất chợt nỗi nhớ về một cánh rừng Bằng Lăng thắm đỏ, dâng tràn tâm tư. Có lẽ, ít người Việt Nam biết rằng: vào mùa này, cái thời điểm thu đang dùng dằng từ biệt và mùa đông vừa mới ngấp nghé nơi chân trời, thì trên những cánh rừng nhiệt đới miền Đông của nước ta, từng có vùng lá đỏ đẹp không thua kém bất kỳ cánh rừng nào. Trong đó, có cánh rừng bằng lăng?

Vào thập niên 70 của thế kỷ trước, (nói nghe có vẻ xa lắc, xa lơ nhưng thật ra thời gian mới chỉ bằng một cậu bé từ sinh ra và trở thành người đàn ông đúng nghĩa ở tuổi ba mươi). Vào một ngày của mùa này, tôi và vài người nữa đã lang thang ở cánh rừng phía Đông của dòng sông Đồng Nai. Chúng tôi hăm hở băng qua nhiều cánh rừng cốt để tìm một rừng tre, lồ ô nguyên sinh. Có lúc, chúng  tôi đi trên những lối mòn, có lúc, cứ nhìn mặt trời rồi nhắm hướng tây mà cắt. Hết một cánh rừng là mảng cỏ xanh non, màu xanh ngọt mướt, sức sống tràn đầy ngồn ngộn trên những khu đầm lầy. Hết đầm, tiếp giáp một cánh rừng khác. Bất ngờ, chúng tôi lọt vào một cánh rừng Bằng Lăng bạt ngàn. Chao ôi! Bừng bừng một  trời lá đỏ! Nhìn lên, không gian như cháy sáng bởi ngọn lửa từ sắc hừng  của lá thắm vừa dịu dàng, vừa nồng nàn, và cũng vô cùng miên man.

Chúng tôi rạo rực bước lang thang trong cánh rừng Bằng Lăng, chẳng còn ai chú ý đến đám vắt ngoe nguẩy trong lớp lá mục, có lúc, chúng cắn no nơi bắp chân rồi lăn cái mình đã  tròn căng, bóng lưỡng rớt xuống mặt lá chết. Bởi những cây bằng lăng thẳng vút, to hai người choàng tay không hết, hoặc nhỏ hơn một chút, thân sáng trắng, vươn những cánh tay khỏe khoắn như muốn chống đỡ bầu trời xanh. Bên trên cánh rừng, những khoảng sáng, hệt như các cánh cửa mở vào một lối thiên thai nào đó. Cánh rừng Bằng Lăng hùng tráng, rưng rưng những cánh lá đỏ chấp chới đã hớp hồn chúng tôi.

Thật lạ, bên dưới tán rừng Bằng Lăng rất thoáng, chỉ một lớp cỏ mọc thấp, chứ không chằng chịt cây non như loại rừng khác. Vì vậy, những  cơn gió bay qua, lớp lớp lá đỏ chòng chành rời cành bay lảo đảo, rồi nhẹ nhàng đậu thiêm thiếp trên mặt đất. Những chiếc lá thu hết tàn lực, tự cháy lên sự khát khao được đẹp lần cuối cùng, trước khi hóa kiếp.

Về sau, tôi còn biết rằng, trong số những cây Bằng Lăng quí giá của cánh rừng nọ, có những thân là Bằng Lăng bông lau, gỗ trắng, vân hồng, thịt mịn đẹp tuyệt vời! Ngày nay, những miếng gỗ Bằng Lăng bông lau có đường kính từ nửa mét trở lên, chỉ có mặt trong những bộ đồ gỗ ở những gia đình lắm tiền, nhiều của. Nhưng lúc đó, tất cả chúng tôi chỉ lo ngắm lá đỏ đang cháy rực trên bầu trời, lòng trào dâng một niềm tự hào khôn tả về quê hương, đất nước.

Vào những năm đầu thập niên 80, tôi thường xuyên qua lại trên con đường mòn từ ngã ba Lăng Minh qua Sông Rây, quẹo về Bàu Lâm, xuôi xuống Hòa Bình, Bà Tô, gần đến Bà Rịa – Vũng Tàu (ngày nay, con đường này có đoạn trở thành đường tỉnh lộ, đường quốc lộ, đẹp nhất nước). Nhưng khi đó, đoạn từ Sông Rây đến Bàu Lâm toàn đi qua rừng già.

Con đường như một sợi chỉ mỏng manh đỏ ngầu, bò len lỏi giữa những cánh rừng nguyên sinh trùng trùng. Nhưng những cánh rừng ấy long lở từng giờ. Máy ủi, máy cưa, máy cày gầm rú ầm ầm trong cơn khát khao đốt phá. Khói đốt rừng bốc lên nghi ngút mù trời. Những cây gỗ quí như Lim, Cẩm lai, Gõ đỏ, Bằng Lăng, Trai… nếu may mắn thì theo xe buôn gỗ đi muôn nơi, nhưng không ít bị vứt vào ngọn lửa đốt  rừng hối hả. Còn những gốc mai hàng trăm năm tuổi thì gần như chẳng ai đoái hoài gì đến, chúng ngậm ngùi thành tro trong lặng lẽ cùng trăm ngàn loài cây rừng khác.

Người ta đốt, người ta cày xới, người ta đốn hạ những cánh rừng nguyên sinh hấp tấp, hối hả, mau mau. Những cánh rừng thiên nhiên mất hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm kiến tạo, chỉ trong nháy mắt cuộc đời đã bay hơi như chưa từng hiện diện bao giờ. Mỗi ngày, hàng trăm héc ta rừng đổ nghiêng, bật gốc rồi cháy rụi. Sức tàn phá của con người so với bão táp của trời đất, thì kinh khủng hơn gấp ngàn lần. Tốc độ đó đã làm cho muôn thú trong rừng không lối thoát, phần lớn, chúng bị dồn vào con đường tuyệt chủng vì mất nhà ở, mất nơi kiếm sống, như bầy voi chẳng hạn.

Tại những cánh rừng huyện Xuyên Mộc, vào những năm 1983 – 1984, từng có voi sa vào hố bom ngay trên đất mới phá rừng. Ban ngày, hàng trăm người tụ tập đến gần để xem con voi mắc nạn, có người còn mang đến hàng vác mía từ nông trường Sông Rây cho chúng ăn, mặc dù bầy voi lẩn quẩn đâu đó vì không nỡ bỏ con voi kém may mắn, chúng cất tiếng hú gọi đầy phẫn uất và bi thương.

Cuối cùng, người ta cũng tìm được cách giúp con voi lên khỏi hố bom. Cả bầy voi đã phủ phục bái tạ trước khi kéo nhau bỏ đi. Với tôi, đàn voi đó có lẽ chính là đàn voi cuối cùng về sau đã tụ tập về khu rừng núi Ông – Tánh Linh – Bình Thuận, bởi vì cả một vùng miền tiếp giáp từ Bình Châu, Xuyên Mộc, Xuân Lộc, Hàm Tân và Tánh Linh chạy liền đến dưới chân những dãy Trường Sơn hùng vĩ ngăn chia Bình Thuận với Tây Nguyên ở cuối phía Nam. Bây giờ, rừng đã co cụm lên núi cao, và ngay cả nhiều đồi núi trên Trường Sơn ở khu vực này cũng đã trọc lóc, từ dưới nhìn lên, núi cứ đỏ loang như máu chảy, chứ không xanh mịt mùng như mấy chục năm trước.

Những cánh rừng toàn bộ của khu vực trên giờ đã là những nông trường, những công ty cao su, trong số đó phần lớn đã cổ phần hóa tư nhân, bởi vì nhiều đơn vị quốc doanh từng làm ăn thua lỗ.

Tôi có nhiều chuyến lang thang bên dưới những cánh rừng cao su, trong đó có chuyến đi tìm một huyền thoại đã chết, huyền thoại về một con voi trắng. Trong nhân gian nhiều vùng ở Tây Nguyên và miền Đông từng đồn thổi rằng, vua Bảo Đại sau khi thoái vị về sống ở Đà Lạt từng nuôi một con voi trắng. Khi gia đình ông rời Việt Nam đã thả con voi trắng về rừng và trên cổ nó có mang vật kỷ niệm đó là một sợi xích bằng vàng?

Chuyện hư thực ra sao không biết, nhưng người dân sống ở gần đồi Bảo Đại, ngọn đồi này nằm ở phía tây, thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, nơi tiếp giáp với những cánh rừng của ba tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Thuận. Ngọn đồi trước đó được đặt tên là đồi Con Sò, những năm 1952 – 1953, quốc trưởng Bảo Đại đến đây săn bắn và nghỉ lại trên đỉnh đồi, từ đó, người dân vùng này gọi tên đồi thành đồi Bảo Đại cho đến ngày nay. Khi rừng còn vây bọc bình nguyên chung quanh ngọn đồi, nhiều người dân nơi này chỉ vào những  dấu chân voi về làng, rồi thì thầm rằng dấu chân ấy chính là của “ngài voi trắng”.

Huyền thoại con voi trắng từng khoác lên mình những cánh rừng nhiệt đới miền Đông, rừng giáp ranh Tây Nguyên một vẻ đẹp lãng mạn, bí ẩn. Nhưng nay rừng chỉ còn trong ký ức, con voi trắng cũng chẳng có nơi nào trú ẩn, câu chuyện chết trong nối tiếc của bao người.

Tôi không phải là một nhà chiến lược, càng không am hiểu về kinh tế, chẳng biết gì về khoa học. Những cánh rừng mất đi có đem lại ấm no, hay giá trị hơn hẳn nó cho quê hương hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết rằng mất rừng, nhiều thế hệ người Việt Nam sau này không biết đến những giá trị của rừng nguyên sinh, khi rừng còn bao phủ nhiều vùng miền quê tôi.

  • Minh Nhựt ( Theo tuanvietnam.net)

Ông bí thư tuyên chiến với túi nilông

“Có ổng, dân xã đảo tui có đường đi, nước sạch; biết cách giữ rừng, giữ biển; góp phần tạo nên khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm. Đây cũng là nơi đầu tiên của cả nước nói không với túi nilông” – một lão ngư thôn Bãi Làng nói về ông Nguyễn Sự – bí thư Thành ủy Hội An – như thế.

Ông Nguyễn Sự trò chuyện với bà con ngư dân, vận động bà con “nói không với túi nilông” – Ảnh: Hoàng  Duy

Lão ngư này bảo thêm: “Ông nớ nói là làm”. Đến nay, hầu như cư dân Cù Lao Chàm đã bỏ hẳn được thói quen dùng túi nilông trong sinh hoạt hằng ngày – cái thói quen đã ăn sâu vào cuộc sống bao nhiêu người trên hành tinh này.

“Cù Lao Chàm nói không với túi nilông”

Đó là câu khẩu hiệu mà ông Sự đưa ra và biến nó thành hiện thực chỉ trong một thời gian chưa đầy hai con trăng. Nói là làm. Và hiện nay không ít người thật sự ngạc nhiên khi trở lại Cù Lao Chàm những ngày gần đây, khi hòn đảo xinh đẹp này sạch sẽ, không còn bóng dáng những bãi rác thải và túi nilông.

Ông Sự nhớ lại: “Tháng 10 năm ngoái, đoàn công tác của thành phố ra đảo để họp dân bàn biện pháp giữ vệ sinh môi trường cho đảo, và hoàn thành hồ sơ đề nghị Unesco công nhận Cù Lao Chàm là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Lúc tàu gần cập bến thôn Bãi Làng, ai cũng không vui khi thấy túi nilông trôi lềnh bềnh trên biển rồi theo sóng tấp vào bờ cát. Còn trên bãi biển dọc đường đi thì cơ man là rác thải mà chủ yếu là túi nilông.

Tôi chợt nghĩ cứ đà này chẳng bao lâu Cù Lao Chàm sẽ trở thành bãi thải các loại túi nilông của cư dân địa phương và du khách. Nếu vậy làm sao giữ được môi trường Cù Lao Chàm sạch đẹp? Mà đây mới chính là yếu tố thu hút và giữ chân du khách”.

Một ý tưởng lướt nhanh qua đầu người lãnh đạo cao nhất của Hội An: chỉ còn cách phải vận động dân đảo không dùng túi nilông và buộc du khách đến Cù Lao Chàm không dùng vật dụng nguy hại này mới mong giữ được môi trường của khu dự trữ sinh quyển này không bị ô nhiễm. Và phải vận động các cơ quan, ban ngành của Hội An cùng một suy nghĩ như thế.

Công ty du lịch và người dân cùng hưởng ứng

Với khách du lịch tới Cù Lao Chàm, UBND xã Tân Hiệp yêu cầu các công ty lữ hành phải in câu “Cù Lao Chàm nói không với túi nilông” trên tờ rơi, vé tàu và buộc các hướng dẫn viên phải có trách nhiệm nhắc nhở khách hàng của mình không sử dụng túi nilông.

Xã cũng yêu cầu các hộ kinh doanh phải cam kết bằng văn bản, điểm chỉ hoặc ký tên rõ ràng: không sử dụng túi nilông gói đồ cho khách. Hễ tàu du lịch nào cập bến Cù Lao Chàm, các lực lượng xung kích của xã trực sẵn ở cầu tàu và kiểm tra, nếu du khách nào đem túi nilông lên đảo thì đổi ngay cho họ túi giấy hoặc túi tự hủy có in dòng chữ “Vì Cù Lao Chàm, vì đảo xanh, biển xanh” bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh.

Vài lần như vậy, đến nay hầu như du khách đã quen dần với câu “nói không với túi nilông”. Nhiều người không giấu được vẻ thích thú. Chị Mergi – quốc tịch Pháp – đã nói như reo khi biết Cù Lao Chàm không sử dụng túi nilông: “Ồ hay quá, đây là một sáng kiến tốt. Giá mà các địa điểm du lịch ở nước chúng tôi cũng biết nói không với túi nilông sẽ rất tuyệt”.

Nghĩ là làm. Một cuộc hội ý chớp nhoáng của ông Sự với các cộng sự cùng đi trên tàu. Kết quả ngoài mong đợi, ý tưởng của bí thư thành ủy đã nhận được sự ủng hộ của mọi người.

Không hô khẩu hiệu, không ký giao kèo, nhưng trong suy nghĩ của những người có mặt trên con tàu hôm đó đều cùng một hướng: phải giữ cho môi trường Cù Lao Chàm trong lành, sạch đẹp. Nhưng làm gì thì làm, trước hết phải vận động bà con trên đảo không sử dụng túi nilông.

Nếu vận động bà con đồng thuận không dùng túi nilông thì phải có vật dụng gì thay thế. Không thể nói suông. Trước khi đưa ra cuộc vận động, ông Sự đã nhờ người quen ở TP.HCM tìm nơi sản xuất túi nilông tự rã, tự hủy. Cả bí thư và các cộng sự cùng hành phương Nam tìm đến tận nơi sản xuất túi nilông tự hủy mua gần 5.000 chiếc đem về phát cho dân sử dụng.

Ông Sự còn buộc cơ sở sản xuất cam kết nếu mua về đem đốt thử loại túi bảo vệ môi trường này mà còn khét mùi nilông là đem trả. Với loại túi tự rã trong vòng 120 ngày ông Sự cũng kiên quyết cho đem chôn để thử nghiệm, nếu không tự rã sẽ không mua.

Cùng với việc mua túi tự hủy phát không cho các hộ dân thay thế túi nilông đựng rác, ông Sự đề xuất tặng thêm mỗi gia đình hai giỏ nhựa đi chợ. Hưởng ứng ý tưởng của người đứng đầu thành phố, một doanh nghiệp làm du lịch tại Hội An là Công ty TNHH Á Đông Silk góp kinh phí mua 1.300 giỏ nhựa tặng người dân Cù Lao Chàm.

“Vì biển xanh, đảo xanh”

Đầu tháng 6-2009, đoàn công tác của thành phố ra Cù Lao Chàm họp với dân để phát động chương trình “Nói không với túi nilông”. Các biểu ngữ với ngôn ngữ dễ hiểu và nội dung thiết thực được treo ở khắp các nẻo đường, ngõ xóm “Vì Cù Lao Chàm, vì biển xanh, đảo xanh”, “Xách giỏ đi chợ – phong cách của người nội trợ”, “Tiết kiệm bao bì là bảo vệ môi trường”…

Cuộc họp tổ chức tại thôn Bãi Làng có gần 500 đại diện hộ dân dự. Tại đây, ông Sự trao đổi với bà con xã đảo mình lợi ích của việc không sử dụng túi nilông để bảo vệ môi trường Cù Lao Chàm, khuyến khích bà con hằng ngày đi chợ bằng giỏ nhựa và gói thực phẩm bằng các loại lá rừng có sẵn. Rồi tự tay ông Sự phát cho mỗi chị em hai giỏ nhựa.

Bà con ủng hộ rần rần bởi họ tin ông Sự, tin vào những điều ông nói và việc mà ông đã làm cho người dân xã đảo, để hôm nay Cù Lao Chàm là khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận. Ông Nguyễn Trúc – một ngư dân ở thôn Bãi Làng – chân chất bảo: “Ông Sự nói gì tui cũng tin và sẽ làm theo, bởi ông ấy chỉ mang điều tốt đến cho bà con mình. Nếu không có rác thải từ túi nilông, Cù Lao Chàm sẽ sạch hơn thì du khách đến nhiều hơn, dân trên đảo có thêm nguồn thu nhập từ các dịch vụ du lịch…”.

Riêng học trò trên đảo được vận động làm kế hoạch nhỏ bằng cách đi nhặt túi nilông để giao nộp và được trả tiền với giá ngang bằng túi nilông mới. Ra đảo thấy học trò đi tìm nhặt túi nilông làm kế hoạch nhỏ, Bí thư Nguyễn Sự vui lắm: “Bọn trẻ sẽ là những người gìn giữ tốt môi trường Cù Lao Chàm ngay bây giờ và trong tương lai. Người lớn sẽ nhìn vào đó mà biết cách kiềm chế và không lặp lại thói quen dùng túi nilông. Không lẽ con cháu mình đi gom nhặt túi nilông để bảo vệ môi trường mà người lớn lại sử dụng thì coi sao được”.

Để giải quyết rác thải ở Cù Lao Chàm, thành phố Hội An đầu tư 400 triệu đồng đóng mới một chiếc tàu có thể chở được 7 tấn rác/ chuyến và mỗi tuần hai lần chở rác vào đất liền xử lý. Ông Sự phân tích: “Mỗi năm Hội An chi khoảng 2 tỉ đồng cho việc thu gom rác thải ở Cù Lao Chàm. Thà mất mỗi năm vài tỉ đồng mà giữ được Cù Lao Chàm trong lành, nguyên sơ. Cái được từ môi trường đem lại cho cư dân xã đảo này sẽ lớn hơn rất nhiều”.

  • Kim Em (Theo TTO)

Bớt kẹt xe nếu biết nhường nhịn nhau

Hà Nội trở thành một thủ đô không vỉa hè. Chỉ cần một vụ va quẹt nhỏ, những đương sự sẵn sàng nhảy bổ vào gây gổ với nhau. Sài Gòn trở thành một thành phố náo nhiệt với những vụ kẹt xe kéo dài giờ tan sở. Những lúc đó đèn xanh đèn đỏ không nghĩa lý gì.

Kẹt xe khu vực bến xe miền Đông (ảnh chụp trên đường Đinh Bộ Lĩnh, Q.Bình Thạnh, TP.HCM) - Ảnh: N.C.T.

Trong những đám kẹt xe, người ta lao lên vỉa hè hay sẵn sàng nhích ga, lấn từng tấc đường trước mặt, gây ra ùn tắc triền miên, không hướng thoát. Nhiều ngõ hẻm yên bình bây giờ đã trở thành những hướng giải quyết ùn tắc bất đắc dĩ. Rồi chính những ngõ hẻm cũng trở thành những chỗ ùn tắc, tiến thoái lưỡng nan.

Không ai làm được phép tính xem năng lượng xã hội đã tiêu hao như thế nào cho việc đi đường. Chỉ biết buổi sáng dắt xe ra khỏi nhà trong tâm trạng sảng khoái, nhưng đến được công ty, qua vài đám kẹt xe thì tinh thần uể oải căng thẳng. Chỉ biết mỗi chiều tan tầm lượn lách qua những đám ùn tắc, về đến nhà thì mệt nhừ bải hoải, chỉ muốn cáu gắt lẫn nhau.

Giao thông đang vẽ ra tâm trạng một bối cảnh căng thẳng. Các nhà quy hoạch giao thông, nếu nhìn qua cửa kính xe hơi, có cảm nhận được những đoạn ách tắc căng thẳng của người dân vì “lô cốt”, vì những dự án sửa chữa trễ tiến độ do mình quản lý? Các nhà hoạch định chiến lược phát triển đô thị có đau đầu khi nhìn thấy những con đường không nở ra thêm nhưng dân số, phương tiện đi lại đang ngày càng nở nồi quá tải?

Chúng ta đang từng ngày chứng kiến sự xuống cấp của văn hóa ứng xử nơi công cộng của người Việt thông qua giao thông. Trong một đám kẹt xe, tôi đã chứng kiến những cô gái mặc áo dài vượt đèn đỏ. Trong một đám kẹt xe, tôi từng thấy một đứa bé vừa tan trường nhắc nhở cha mình phải biết dừng lại dành khoảng vạch trắng cho người đi bộ. Và cũng trong đám kẹt xe, tôi gặp những vụ va quẹt, ẩu đả đầy quyết liệt.

Cảnh kẹt xe thường thấy tại khu vực Lăng Cha Cả (TP.HCM) - Ảnh: T.T.Dũng

Luật lệ đã không có chỗ trong một đám đông hỗn loạn mạnh ai nấy chạy. Sự bình tĩnh và văn hóa đã không có mặt trong một đám đông lùng nhùng bức bối. Và tâm lý ứng xử theo cách đối phó, theo lối gắt gỏng mạnh được yếu thua, theo những cách giành giật bất tuân lợi ích chung cũng nảy sinh từ đó. Những đám kẹt xe nhỏ có thể giải tỏa sau đó một vài tiếng, nhưng sự lặp đi lặp lại hằng ngày của tình trạng đó sẽ để lại cho người ta một thứ tập quán xem thường những ứng xử nơi công cộng của con người đô thị.

Đô thị văn minh phải xuất phát từ thị dân văn minh và một trình độ cơ chế quản lý, quy hoạch văn minh. Ứng xử giao thông đôi khi tưởng là một câu chuyện nhỏ nhưng lại là một biểu hiện rõ ràng nhất của tình trạng đời sống xã hội.

Nếu giải quyết được vấn đề giao thông một cách văn minh, từ ý thức mỗi cá nhân thị dân và từ cơ chế hoạch định vĩ mô của chính quyền, điều đó tạo ra một sự thuận tiện di chuyển, một hình ảnh đẹp bề ngoài, đồng thời thiết lập những giềng mối tinh thần, văn hóa công cộng trong đời sống, không làm hoài phí năng lượng sáng tạo và xây dựng đô thị.

  • NGUYỄN NHÂN CHÍNH (Theo TTO)

Điện mặt trời sẽ phát triển nếu được sự hỗ trợ từ nhà nước

Là một doanh nghiệp chuyên tư vấn, cung cấp và lắp đặt các hệ thống năng lượng mới, tôi thấy sử dụng năng lượng mặt trời ngoài việc không được hỗ trợ từ phía Nhà nước, cơ quan điện lực, còn phải chịu nhiều bất cập từ phía thuế suất và thủ tục hải quan.

Thuế nhập khẩu các thiết bị sản xuất điện từ năng lượng mặt trời cao, dẫn đến giá thành thiết bị cũng cao. Trong ảnh: thiết bị sạc và đổi điện cho hệ thống độc lập tại nhà một người dân sử dụng điện mặt trời -Ảnh: T.D.

Tại các nước tiên tiến trên thế giới, đặc biệt là Mỹ, từ khi Tổng thống Obama nhậm chức, các chương trình hỗ trợ việc sử dụng năng lượng mới, đặc biệt là năng lượng mặt trời, được chính quyền tiểu bang và liên bang hỗ trợ về tài chính lên đến 50% trị giá của hệ thống lắp đặt, tùy thuộc công suất và hiệu suất của hệ thống.

Với giá thành của các tấm pin năng lượng mặt trời ngày càng giảm, các thiết bị này được bày bán phổ biến ở siêu thị xây dựng như Home Depot hay Lowe’s.

Trông người lại ngẫm đến ta, khi kinh tế nước ta đang trên đà tăng trưởng sau suy thoái, đang rất đói năng lượng, nhưng hiệu suất sử dụng điện cũng như cách quản lý của ngành điện còn quá nhiều bất cập. Để kích cầu việc sử dụng các hệ thống năng lượng mới, lẽ ra thuế suất nhập khẩu các thiết bị hay phụ kiện này phải được ưu đãi với thuế suất 0%, nhưng hiện tại biểu thuế đối với các phụ kiện của hệ thống điện mặt trời còn rất cao.

Ngoài ra biểu thuế của ta chưa cập nhật với các thiết bị tái tạo năng lượng khác như năng lượng gió, năng lượng thủy triều, tạo điều kiện để các nhân viên thuế quan “làm luật” đối với doanh nghiệp. Đó là chưa kể rất nhiều “rào cản” yêu cầu giám định thiết bị cũng như những “thủ tục khó nói” khác khi làm việc với bộ phận hải quan.

Một rào cản khác cũng làm nản lòng nhiều người là khi các đơn vị, cá nhân lắp đặt, sử dụng hệ thống năng lượng mới, họ không có quyền bán lại nguồn năng lượng dư thừa cho cơ quan điện lực. Trong khi đó nếu các đơn vị, cá nhân trữ nguồn năng lượng này bằng hệ thống ăcquy sẽ gây tốn kém và hiệu suất không cao.

Mô hình năng lượng của ta từ trước đến nay quá đặt nặng mô hình tập trung độc quyền, chỉ lo xây dựng các nhà máy điện khổng lồ mà quên những hộ cá thể hay cơ quan tư nhân cũng có thể tham gia sản xuất điện.

Những đối tượng này dù sản xuất điện với công suất nhỏ, nhưng nhiều người tham gia sẽ cho ra nguồn điện với số lượng lớn. Điều quan trọng là họ tự bỏ vốn ra đầu tư sản xuất điện dùng cho nhu cầu gia đình, cơ quan và phần còn dư có thể bán cho ngành điện, góp phần giảm thiểu nạn thiếu điện hiện nay.

ĐỖ BÌNH DƯƠNG (giám đốc – DLV Corp.)

Xem thêm : Sử dụng điện mặt trời, mỗi tháng tự sản xuất 300 số điện