Sâm cầm sẽ bay về.

Nguyễn Đăng Tấn

Hà Nội bây giờ bắt đầu đã vào đông. Cái lạnh se se làm lòng người nôn nao. Một cảm giác lành lạnh, trống trải. Tôi lại tìm về nơi ngày ấy. Mặt hồ mênh mang chỉ có gió là gió. Ánh chiều như dát bạc xuống mặt hồ. Tôi cứ thầm ước ao giá lúc này chim quí sẽ bay về.
Có thời gian độ vài năm tôi ở khu biệt thự Hồ Tây. Nói là ở cho oai chứ khu này dành riêng cho quan chức không phải ai cũng được đến.

 

Mô tả ảnh.

 

Sâm cầm (Ảnh: Tư liệu)

Chả là khi cơ quan đang đóng tại một biệt thự ở phố Phan Đình Phùng thì một vị lãnh đạo được phân làm nơi ở, thế là cơ quan chuyển lên khu biệt thự này. Anh em nói vui: mấy khi được đi nghỉ dưỡng.

Quả là những nhà kiến trúc cảnh quan Hà Nội có con mắt xanh. Họ chọn nơi này làm chỗ nghỉ dưỡng thật là đắc địa. Ở ngay Hà Nội lại có một nơi vừa như rừng vừa như biển. Giống rừng bởi ở đây tràn ngập cây xanh, tràn ngập cỏ cây hoa lá, mùi hương hoa lúc nào cũng phảng phất trong sự tĩnh lặng của không gian. Như biển bởi sóng nước Hồ Tây luôn xôn xao. Gió Hồ Tây luôn mát rượi.

Những lúc vừa làm xong công việc, tôi lại tự thưởng cho mình những phút dạo bên hồ. Mặt trời chiều như đang tiếc nuối dùng dằng chưa muốn lặn xuống phía bên kia bờ. Bầu trời như một bức tranh ngũ sắc với những đám mây màu vàng óng, đỏ rực in xuống mặt hồ đang nhấp nhô sóng lượn.

Dạo ấy cơ quan tôi mới nhận về một cô gái người của làng Quảng Bá, Nghi Tàm. Một cô gái xinh xắn của những vườn đào vườn quất, của những “bến trúc lao xao tự thưở nào”. Tôi đã được nghe em kể về những huyền thoại Tây Hồ. Chuyện nào em kể cũng thích thú.
Chúng tôi thường có những buổi chiều ngồi ngắm hoàng hôn đang dần buông xuống mặt hồ. Chiều đang tím thẫm ánh xuống mặt hồ, màu sắc đẹp như những chùm violet lả tả rơi xuống mặt hồ trong xôn xao con sóng. Những lúc như thế em lại kể về những huyền thoại Tây Hồ. Những trâu vàng phương Bắc nghe tiếng chuông liền vùng đi tìm mẹ, đến đây quần thảo làm đất sụt thành hồ khiến hồ có tên là Kim Ngưu (Trâu Vàng). Cáo chín đuôi ẩn nấp làm hại dân, Long Quân dâng nước lên phá hang cáo, hang sập thành ra hồ gọi là hồ Xác Cáo. Hồ trong sáng như gương, sóng vỗ dạt dào nên gọi là Lãng Bạc. Hồ cong cong như vầng trăng khuyết nên gọi là hồ Nga My. Hồ được gọi là Dâm Đàm (đầm Mù Sương) vì hồ luôn phủ một lớp sương mờ mờ huyền ảo. Hồ ở phía tây kinh thành Thăng Long, nên được gọi là Hồ Tây…

Một hôm đang ngồi bên hồ cùng em sau ngày làm việc thì bỗng một bầy chim sà xuống hồ. Tôi hơi ngạc nhiên vì trông giống như chim quốc ở quê tôi. Em có biết chim này là gì không? “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc” đấy. Tôi có vẻ thành thạo. Em liền cười: Không, đây là sâm cầm, đặc sản Hồ Tây đấy. Sâm cầm tôi đã nghe nhiều rồi. Bài hát “Nhớ mùa thu Hà Nội” của Trịnh Công Sơn cũng có một đoạn viết về loài chim này. Kỳ lạ thật, từ tên gọi đến quê hương cứ như là huyền thoại. Em kể rằng ở tận xứ Kim chi xa xôi, dân một làng nọ có dạo bị một loại bệnh dịch chết dần chết mòn. Tình cờ nhờ bắt được chim lạ ăn một loại rễ cây trong núi cao mà họ đã trở nên khỏe mạnh. Loài rễ ấy sau này trở thành thứ Sâm nổi tiếng xứ Hàn. Không biết có phải là loài chim ăn sâm ở tận xứ Kim chi hay không mà thành tên gọi.

Còn chuyện em kể các vua triều Nguyễn ra lệnh cho quan trấn thủ Hà Nội buộc các làng bên Hồ Tây hàng năm phải tiến chim sâm cầm lên vua để làm thức thuốc tăng cường sinh lực làm tôi khó tin. Nhưng em nói làng em còn ghi trong Hương ước hẳn hoi. Hương ước chép rằng “Hàng năm, mỗi giáp phải nộp năm con sâm cầm. Nhà nào không nộp là trốn lệ vua, thiếu một chim, phạt vạ bạc mười nén, dây dưa thì lý bị trưởng lôi lên phủ đánh một trăm roi!”. Và chả biết có quí như sâm hay không, tăng lực đến mức nào nhưng chuyện mỗi năm dân làng quanh Hồ Tây phải nộp là có thật.

Mô tả ảnh.
Ảnh (tư liệu)

Sâm cầm đi vào câu ca của người Hà Nội như là những đặc sản: Dưa La, húng Láng, ngổ Đầm; cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây…

Ở khu biệt thự Hồ Tây mấy năm và cứ mỗi độ đông về, tôi lại nôn nao nhớ đến những bầy sâm cầm. Có lần bầy chim còn sà cả xuống sân để ăn những trái hồng xiêm rụng. Những lúc đó thường là rét quá chim không ngụp lặn dưới hồ để mò thức ăn. Tôi định mượn súng săn, để hạ mấy con định thưởng thức hương vị Tây Hồ, nhưng em liền ngăn lại, làm thế thì chim sẽ bay đi không trở lại. Em bảo bây giờ rất buồn chim về thưa hơn trước rồi. Thức ăn ngày càng hiếm, bờ cũng đã bê tông hóa, không có nơi để chim trú ngụ, xung quanh hồ nhiều khu nhà đã mọc lên sừng sững. Có nhiều người chỉ chuyên rình rập để săn bắt chim. Ngay gần hồ có cả những quán nhậu trong đó có đặc sản sâm cầm. Em nói vậy nhưng tôi chưa từng gặp.

Rồi em băn khoăn sao Hà Nội không có qui định gì để bảo vệ loài chim quí và độc đáo này. Giả sử Hồ Tây không có sâm cầm bay về thì sẽ ra sao, giống như Hồ Gươm nếu sẽ không còn cụ rùa nữa?

Tôi cũng đã từng gặp trên nhiều đoạn đường như Hoàng Hoa Thám, Lê Duẩn (bên công viên Thống Nhất) ở giữa Thủ đô có những người thường đem bán các loài chim. Không biết họ bắt ở đâu mà nhiều đến thế. Chim sẻ, chim ngói thì là bình thường. Có loại chim tôi cũng chịu không biết là chim gì. Chắc là loài chim quí. Có những chú chim đã vặt trụi lông không nhận ra được chim gì nữa. Chúng co ro trước gió khi thấy người lạ đến và sợ hãi, rúc vào chân người bán như một sự van xin trông mà tội nghiệp. Các bạn đã gặp cảnh này chưa, những chú chim bị vặt lông ấy.

Tôi đã đọc được trên một diễn đàn, một bạn tên Phương đã viết thế này: Họ không cảm nhận được sự đau đớn của con vật nhỏ bé khi vặt lông sống rồi để đứng co ro chờ người mua thịt..chẳng lẽ không còn cách hành xử nào mang một chút văn minh tối thiểu đối với con chim sao? thử hỏi nếu những người đó bị vặt tóc sống… vặt trụi cho đến sợi cuối cùng thì họ có chịu được những cơn đau đớn hay không mà lại làm thế với những con vật bé nhỏ đó ..con thú có khát máu thì bao giờ nó cũng giết rồi mới ăn

Nhà văn Nguyễn Quang Thiều có lý khi viết rằng: Nếu con người biết yêu một con chim thì sẽ biết yêu một con người. Đấy là một chân lý đơn giản mà ai cũng biết, dù bây giờ quá ít người muốn nghe.

Mô tả ảnh.
Chiều Hồ Tây

Sâm cầm chắc không nhiều nên không có ai đem bán như thế. Giả sử có bán cũng chỉ để những người nhiều tiền lắm của chứ người dân lấy đâu ra tiền để mua loài chim quí này để mà thưởng thức. Tôi đã kịp dừng lại cái ý nghĩ điên rồ đem súng ra bắn những chú chim vô tội kia trước sự can ngăn của một cô gái làng hoa Nghi Tàm. Chắc em biết rất rõ giá trị của thứ chim này nhưng cái cao hơn là sự nghĩ suy về một danh thắng.

Hồ Tây đã trở thành huyền thoại. Sâm cầm cũng  thành huyền thoại của Hồ Tây. Bây giờ tôi không còn được ở khu biệt thực đó nữa, cô gái ấy cũng đã theo chồng đi xa. Nhưng cứ đến gần ngày đầu đông tôi lại nôn nao nhớ về loài chim ấy. Cái cảm giác hạnh phúc sau giờ làm việc được thả bộ trên những con đường quanh hồ hay ngồi bên cô gái của làng Nghi Tàm mà đón đợi sâm cầm bay về để được chiêm ngưỡng đàn chim “vỗ cánh mặt trời” sao mà da diết.

Hà Nội bây giờ bắt đầu đã vào đông. Cái lạnh se se làm lòng người nôn nao. Một cảm giác lành lạnh, trống trải. Tôi lại tìm về nơi ngày ấy. Mặt hồ mênh mang chỉ có gió là gió. Ánh chiều như dát bạc xuống mặt hồ. Tôi cứ thầm ước ao giá lúc này chim quí sẽ bay về.

(VNN)

haiz21

Advertisements

Có ai đi giữa lòng Hà Thành, chợt muốn hét lên kêu cứu?

Hà-nội Xanh thân mến,


Ba tôi người Huế, mẹ là con gái Hà-nội. Tôi sanh ra ở cố đô Huế nhưng lớn lên ở Sài-thành, giữa hai khoảng giai đoạn ấy là những mảnh ký ức mỏng tang của những năm đầu đời, khi nhà tôi ra Hà-nội ở (ắt để mẹ tôi ở gần bà ngoại, cũng vì công việc của ông thân tôi khi ấy). Những mảnh ghép mong manh mập mờ mùi hoa nhài nhà ngoại tôi ở Lý Thường Kiệt, có cái cầu thang gỗ mà tôi mỗi lần nhìn thấy lại rất sợ, vì thấy nó to to, tối tối…ang ác, có màu xanh của balcon sắt uốn như tấm ren tinh xảo trên mấy căn nhà thời Pháp.

Tôi mang máng nhớ những khi ba tôi cõng tôi lên vai tản bộ ra cái mà tôi gọi là “công viên con cóc” (ắt hẳn nhà tôi xưa phải gần đây lắm do trong kí ức của tôi, ba đã cõng tôi đi bộ suốt ra đến công viên). Trong những nhập nhằng hồi tưởng ấy, là đoạn đê đường Thanh Niên mà với một đứa trẻ như tôi khi ấy, là cả một cái đồi cỏ thoai thoải thênh thang, một bên là cỏ xanh và gió se se, phía bên kia là dãy tường ố vàng của dãy nhà to trông buồn, già và u uất.

Hà-nội của tôi còn là bát bún ốc nước trong vị thanh thanh nhẹ nhõm, quả cả muối đến rúm ró quăn queo mà đậm đà đến tận chân tóc, cốc đỗ đen không có cái ngọt hào sảng đến dư dật của chè miền Nam, mà thanh như tiếng, như người, như trời Hà-nội.


Về sau, khi lên concept cho bộ hình Hanoi Daily và viết bài thơ Nostalgia (lấy làm thớ lợ lắm cách bày tựa nạc mỡ của mình, nhưng tại thói quen chọn ngay từ đầu tiên đến trong đầu làm tựa, về sau được tòa báo sửa lại thành Chị Tôi, nghe giống tựa bài ca, nhưng thôi kệ!), tôi vẫn thắc thỏm nhắc nhớ lại hết những hình ảnh quá vãng ấy.
Ba tuổi, tôi lớn lên làm con gái Sài-gòn nhưng có cái biệt tài tùy người đối diện mà dùng giọng Bắc, giọng Nam bộ hay giọng Huế, cái nào cũng lơ lớ, lai lai, nhưng được cái về chốn nào nơi 3 thành phố lớn cũng dễ bề hòa hợp mà nhập gia.
Ấy nhưng lần nào cũng vậy, ra Bắc công tác cũng chỉ được dăm ba hôm, khi về vẫn nắc nỏm thòm thèm bởi nỗi chưa được ngụp lặn cho thỏa trong cái không khí vừa quen vừa lạ ấy, chưa có buổi rảnh rang mà tìm ghé qua coi thử chốn xưa liệu còn nhắc nhớ gì không những mảnh mỏng tang kí ức tôi ép kỹ trong tiềm thức thiếu thời. Hà-nội vẫn “sống” quá, trôi nhanh và ồn ào, không dừng lại cho tôi được ngắm kỹ đặng mỏi mòn tìm nét thân quen. Vậy nên, mỗi bận về, lòng lại càng đòi đoạn cơn hoài cố, nhớ lại càng nhớ thêm.
Rồi mãi cho đến về sau, được vời về làm cho một tạp chí tại Hà-nội, nhờ cái duyên may được ban biên tập cưng chiều trọng dụng, lại nhiều việc cậy nhờ nên có lắm dịp được lưu lại khá lâu, thậm chí có lần còn được mời cân nhắc chuyện chuyển hẳn ra Bắc để tiện cho công việc.


Nhớ lần chụp bộ ảnh Hanoi Daily, tôi tham lam với ước nguyện chả gì hơn là hối hả tom góp lại những nét còn nét mất, cậy nhờ kỹ thuật nhiếp ảnh tân kỳ, hòng mong lưu giữ lại cho kịp, kẻo nuối tiếc khi về sau mai một.
Ngoài chuyện đã kể ở dòng tâm sự lần trước với Hà-nội Xanh, một kỷ niệm không quên của chuyến làm ảnh lần ấy là chuyện về chiếc áo cánh. Thương tiếc cái duyên nền nã, kín đáo của chiếc áo cánh bằng phin nõn mà mẹ tôi kể lại rằng bà ngoại vẫn khâu tay cho các con gái. Vậy mà giữa lòng Hà-nội, tôi mất trắng một ngày ròng mải miết tìm nơi mua chiếc áo cánh phin nõn. Đến được địa chỉ có người tốt bụng mách cho thì đã tự khi nào là cửa tiệm bán đồ chơi Tàu cho nít nhỏ. Cùng đường, hỏi liều bà chủ nhà, nghe từ “áo cánh”, bà “scan” tôi từ đầu dưới chân như nhìn một con nhỏ hoặc là “ở bển mới về, trển mới xuống” hay “ở dưới mới lên”, hoặc tệ hơn là “ở trỏng (nhà thương) mới ra”. Tôi cảm ơn (?) và đi ra sau lời mắng “Ăn mặc như dân Sài-gòn mà hỏi lạ thế?”
Chuyện thứ hai là việc quyết định về kiểu tóc. Tôi khăng khăng muốn được nhìn lại cái gáy cong, cái khóe tai trang nhã sau nét tóc vấn trần kiểu cách ngày xưa, nhưng không một hair stylist nào của Hà-nội làm tôi hài lòng. Chỉ đến buổi sáng cuối cùng, may mắn cậy được người chuyên hóa trang của hãng phim đến làm tóc cho cô minh tinh Minh-Châu, tôi đành phải ngậm ngùi chấp nhận.


Dự tính chuyển đổi phương án tóc sang lối bánh bẻ. Lại hàng chục cú điện thoại, những chuyến đi tận mọi ngõ ngách Hà-thành, được cái được tòa soạn cưng chiều nên tôi huy động mọi anh em trong tòa soạn cùng tham gia vào cuộc “truy tìm hiện vật” rầm rộ và quy mô. Nhưng mọi cố gắng đều đã không tìm ra được cho tôi một chiếc cặp ba lá. Chỉ một chiếc cặp ba lá.


Than ôi Tràng-an thanh tú trong tôi, giờ phải chăng chỉ còn là hiện vật, là lớp hóa trang giả hiệu vụng về, là giả cách ngô nghê mất gốc?


Tôi ra về với một nỗi sợ, mỏng tang như những ký ức thiếu thời của mình vậy, rằng đã có một điều gì đó, nhỏ thôi, đã mất đi trước khi tôi kịp sờ tay vào, được ướm thử lên người cái cảm giác “hè thì mát, đông lại ấm áp” như mẹ tôi từng kể. Một điều gì đó, nhỏ thôi, như bàn tay bà tôi thoăn thoắt vấn lượt tóc nuột nà quanh đầu, nửa dung dị nửa trang đài. Hay thậm chí chỉ mấy lá nhôm lá thép kẹp lấy mái tóc đàn bà con gái cho chân phương kẻ chỉ…

Tôi muộn rồi chăng?

Vồ vập ôm vào lòng, những muốn biến thành của riêng để ấp yêu bảo vệ, tôi đặt để vào đấy hình ảnh vườn hoa con cóc, cái mũ cối bộ đội, nét tóc bánh bẻ, vấn trần duyên dáng ngày xưa, cái phối màu ố của tường vàng và xanh xỉn của balcon sắt, cái mùi giấy của hiệu sách cũ ọp ẹp thiếu sáng, cả cái huy hoàng quá lứa của một Hà-nội đang mất dần, loãng dần, ô tạp dần. Tôi thiết tha níu giữ trong ngậm ngùi thực tế của thời gian và thời cuộc.

Có ai đi giữa lòng kinh đô văn hiến, ngậm ngùi nhìn một tòa lầu chết trong một nhan sắc đã từng hoàng kim nay hoang phế đến rợn người?

Có ai đi giữa lòng Hà-thành, đã bao giờ chợt muốn thắp một nén nhang cho một ngôi cổ tự?

Có ai đi giữa lòng Hà-thành, chợt muốn hét lên kêu cứu?


Hoa Nhài Đen

Một góc chiều Hà Nội

Hồ Gươm xanh màu xanh cổ tích
Con rùa vàng gửi bóng ở trên mây

Cây si mọc chúc cành xuống nước
Thê Húc cong cong một nét lông mày

the huc 5

Tóc em dài cho ta nhìn thấy gió
Áo em bay cho mờ tỏ thân hình
Em sâu sắc như kinh thành cổ kính
Gốc si già da mốc ngói rêu xanh

thieunu

Em nhẹ nhõm đi về trong phố cũ
Tường nhà lở vôi cửa gỗ bức bàn
Ta lặn lội như một thằng ăn trộm
Nơm nớp lo mình bị bắt quả tang

thi

Lần lữa mãi thế là ta lỡ dại
Để dành thành mất cắp cả tình yêu

Thế là ta mồ côi em mãi mãi
Cái vu vơ chết đuối dưới sương chiều

lav

Cửa gỗ cài then… bóng em mất hút
Xe cúp đã thay cho ngựa tía võng điều
Ta trở lại gốc si già… và làm lại
Làm thơ tình tặng những lứa đang yêu…


Nguyễn Duy

Ảnh: (1) Morning Hà Nội

(3), (4): Xuân Chính

Nostalgia

Do cơ duyên mà ngày hôm qua chúng tôi gặp được một người bạn nặng lòng với Hà Nội và được chị chia sẻ nhiều điều về chốn Thăng Long xưa. Bộ ảnh-thơ dưới đây mang hoài niệm của một người con xa quê với cố hương. Được chị cho phép, chúng tôi xin đăng lại ở đây để chia sẻ cùng bạn đọc. Xin chân thành cảm ơn chị.

haiz

Nostalgia


Hà-nội,
ngày tôi đi…
Chỉ còn nhớ mùi hoa nhài buổi sớm,
long tong tiếng guốc ngoài sân gạch,
và chị tôi,
Tóc vấn trần vén lệch vành tai
Photobucket

Gần ba mươi năm,

em làm công dân thế giới

lớn lên từ bát xôi xéo gần nhà

Ấy cũng non ba thập kỷ,

Chị tôi vẫn nấu lá gội đầu

Rồi đau đáu chôn tóc xanh,

… chị đợi!

Photobucket

Ba mươi năm,
Phố cổ làm du lịch,
Chị tôi tóc vẫn vấn trần.
Hàng phố giờ gọi chị là nữ hoàng ngớ ngẩn
Ngạo nghễ thiết triều trên di tích hoàng cung
Photobucket
Ba mươi năm,
em vẫn hay gọi “Chị ơi!”
Khi nhác thấy lưng áo dài trên phố
(thời nay, chị biết không, Lê Phổ cùng Le Mur đâu còn tân thời nữa)
Tiếc mãi dáng lưng ong
em ngẩn ngơ,
chấp chới
níu đôi tà.
Photobucket

Ba mươi năm,

em vẫn thầm gọi “Chị ơi!”

mỗi khi giữa tiết trời đông

hơi thở dài thoảng mùi như hoa sữa

Tiệm sách cũ biết giờ còn mở cửa

Kẻo vàng hương lẩn thẩn, chị lại thở dài

xót chút tàn

văn hiến Tràng-an

Photobucket

Ba mươi năm có lẻ,
Tất tưởi,
Em chạy về tìm chị của riêng em
(hay em về tìm em, chả rõ)
Quên vị kem bờ hồ
cũng chẳng còn đâu lanh canh tàu điện
Hiệu áo cánh giờ bày bán đồ chơi Trung – Quốc
Va phải màu sơn xanh balcon sắt cuốn
Đau đáu
vói nhìn,
Em thê thiết gọi:
“Chị ơi!”
Photobucket
Rồi thì,
em vẫn gặp chị đấy thôi
lúc này, lúc kia trên phố
Kim anh trang đài một thuở
rồi chắc cũng lạnh lùng, lạ lẫm lúc sang thu.
Giữa phấn sáp của văn minh, tân kỳ cùng Âu hóa
Photobucket
Rồi thì,
em vẫn gọi “Chị ơi!”
Sau mỗi khóe tai vén lệch
tóc vấn trần
Hoài Anh

Photography project: Hanoi Daily

Photographer: Thiện Hoàng

Model: Minh Châu

Stylist: Hoài-anh

Text by Hoài-anh

Blog Trác-Thúy-Miêu/ Hoa Nhài Đen

haiz