Gửi người Việt Nam hoang phí

Khương Duy

Mỗi mảnh đất của quê hương là một mảnh thịt xương người Việt đã ngã xuống để giữ gìn. Sao không bằng sức mình làm giàu trên mảnh đất ấy? Trao nó vào tay người ngoài không chỉ là hoang phí mà còn là một mối nguy hiển hiện. Đó là một sự lãng phí có tội với tương lai của đất nước.

“Tiết kiệm là quốc sách” – câu nói ấy được lặp đi lặp lại không biết bao lần trên sách vở, báo đài nhưng dường như tác dụng của nó thực sự chưa thấm vào đâu. Tôi chợt nghĩ, đó là do người Việt Nam chúng ta không những không có bản tính tiết kiệm mà ngược lại còn vô cùng hoang phí, nên khẩu hiệu ấy mới như “nước đổ lá khoai”.

Hãy bỏ qua những “tiểu tiết” như tắt điện, tắt điều hoà khi ra khỏi phòng hay những bữa tiệc xa hoa của không ít người Việt Nam khiến người nước ngoài cũng phải “nể” – những sự hoang phí mang tính cá nhân như thế chưa thấm vào đâu so với “trào lưu” hoang phí của cả một đất nước.

Bắt đầu từ chuyện những hồ nước Hà Nội bị san lấp và nhiều cánh đồng “bờ xôi ruộng mật” khắp các tỉnh thành đột nhiên biến thành sân golf hay được bê tông hoá thành khu công nghiệp. Đúng sai, phải trái thế nào người dân đã nói quá nhiều. Tôi chỉ xin nhấn mạnh rằng việc xẻ thịt ao hồ, đồng ruộng như thế là cực kỳ hoang phí.

Ảnh: e-city.vn

Đâu phải thành phố nào trên thế giới cũng được thiên nhiên ban tặng hệ thống hồ đẹp và dày đặc như Hà Nội. Vậy mà chúng ta đã biến bao hồ lớn hồ nhỏ của thủ đô thành ao tù chứa rác, thậm chí còn muốn bức tử chúng để xây cao ốc, chung cư. Và dù biết rằng phải mất mấy trăm năm, mấy ngàn năm những mảnh đất cằn khô mới thành ruộng nước hai mùa trồng lúa, chúng ta vẫn nhẫn tâm đổ bê tông cốt thép lên trên để “xây cho nhà cao cao mãi”. Hành vi đó có thể gọi là gì ngoài hai từ hoang phí?

Ai đi qua đường Láng sẽ nhìn thấy tấm biển đề “Di tích lịch sử văn hoá Chùa Nền”, tấm biển mờ mịt vì bụi, chỉ lối vào một ngôi chùa luôn đóng cửa im ỉm, sân chùa đã được trưng dụng làm kho hàng, bãi gửi xe, trước cổng chùa ngổn ngang xi măng, sắt thép. Có phải vì cả nước có quá nhiều những “di tích lịch sử văn hoá đã xếp hạng” nên chúng ta thành ra coi thường? Nếu cứ hoang phí các di tích như thế, đến lúc chúng ta sẽ phải xếp chúng vào “sách đỏ” vì nguy cơ tuyệt chủng.

Cả những “di sản văn hoá phi vật thể” cũng đâu được chúng ta trân trọng. Sự hoang phí đội lốt bảo tồn mới đáng sợ làm sao: chúng ta háo hức giới thiệu với thế giới về ca trù, quan họ; sung sướng nếu trong cuộc giao lưu, bạn bè nước ngoài nói vài câu tiếng Việt hay hát một điệu dân ca. Nhưng chính chúng ta đâu có biết trân trọng chúng? Bao nhiêu người Việt Nam ngồi xem hết một vở chèo hay một vở cải lương? Chúng ta đối xử một cách lạnh nhạt những thứ mà ngoài miệng xưng tụng là tinh hoa. Với sự hoang phí ấy, liệu bao nhiêu bằng  công nhận của UNESCO mới đủ để giúp những tài sản tinh thần của dân tộc ta thôi tuyệt chủng?

Tôi chợt lạnh người khi gần đây báo chí đang xôn xao về chuyện nhiều địa phương cho nước ngoài thuê rừng, thuê đất. Ảnh: cadn.com.vn

Một sự lãng phí đáng lo ngại hơn nữa – lãng phí nhân tài. Đất nước ta có truyền thống hiếu học và trọng người có học. Nhưng giữa trọng thị và biết cách sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nhân tài lại có khoảng cách khá xa. Đã có bao nhiêu người tu nghiệp trời Tây, mong được về làm việc trong cơ quan Nhà nước nhưng rồi đành ngán ngẩm khăn gói ra đi “làm thuê cho Tây”. Bao nhiêu vị có học hàm học vị vẫn hàng ngày đến cơ quan chỉ để nhâm nhi nước chè? Bao nhiêu luận văn, luận án phủ bụi trong thư viện?

Nhân tài không phải như ao hồ tự nhiên mà có, để có một nhân tài, người mẹ đã đổ mồ hôi trên cánh đồng, người cha đã sôi nước mắt trên những cuốc xe ôm, người con đã mờ mắt vì những đêm chong đèn thức trắng. Vậy mà nhân tài cuối cùng đi đâu? Chợt nhớ lời của người xưa: “Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”. Nhưng với Việt Nam, có lẽ không phải số nhân tài quá ít nên không đủ lấp đầy “nhà trống”, mà vì nó trống trải, lạnh lẽo, khó sống quá nên nhân tài vào cửa trước ra cửa sau. Ai đó đã đúc kết một câu nói chua chát nhưng không phải không có lý rằng người Việt ta “giàu thì ghét, nghèo thì khinh, thông minh thì không dám dùng.” Nếu vẫn giữ sự lãng phí nhân tài, liệu đến bao giờ chúng ta mới có thể hoá rồng, hoá hổ hay mãi mãi chỉ loay hoay trong cái bẫy thu nhập trung bình?

Tôi chợt lạnh người khi gần đây báo chí đang xôn xao về chuyện nhiều địa phương cho nước ngoài thuê rừng, thuê đất. Chao ôi, mỗi mảnh đất của quê hương là một mảnh thịt xương người Việt đã ngã xuống để giữ gìn. Sao không bằng sức mình làm giàu trên mảnh đất ấy? Trao nó vào tay người ngoài không chỉ là hoang phí mà còn là một mối nguy hiển hiện. Đó là một sự lãng phí có tội với tương lai của đất nước.

Nếu không chịu tỉnh mộng, vẫn tưởng người Việt chúng ta luôn biết tiết kiệm, biết trân trọng những thứ mình có, đến một ngày sực tỉnh muốn trân trọng, muốn tiết kiệm những thứ ấy e đã muộn rồi.

Theo TVN/VNN

Tàn sát thiên nhiên nhân danh hủ tục

Đào Tuấn

Viết về vua Lý Nhân Tông, Đại việt sử ký toàn thư chép lại những việc lớn trong đạo trị quốc của vị vua, được các sử gia sau này đánh giá là minh quân, là một quân vương mẫn tiệp, bậc thần võ sáng suốt: Năm Ất Mão, 1075, nhà vua mở khoa thi tam trường còn gọi là Minh kinh bác học  để chọn người tài làm quan. Năm Bính Thìn, lập Quốc Tử Giám- trường đại học đầu tiên ở Đại Việt. Trong 56 năm trị quốc, nhà vua đã hai lần xuống chiếu cấm mổ trâu: “Kẻ nào mổ trộm trâu thì phạt 80 trượng, đồ làm khao giáp, vợ xử 80 trượng, đồ làm tang thất phụ và bồi thường trâu; láng giềng biết mà không tố cáo, phạt 80 trượng”. Lý Nhân Tông là người đầu tiên khởi xướng việc đắp đê phòng lũ mà đoạn đê Cơ Xá còn đến ngày nay. Và, năm 1722, nhà vua xuống chiếu cấm dân chúng mùa xuân không được chặt cây. Dù còn nhiều ý kiến, rằng việc bảo vệ cây xanh có lẽ xuất phát từ sự hâm mộ Phật pháp của nhà vua, song dường như khi đưa chi tiết này vào sử sách, các sử gia đã nhận thấy Ngài là vị vua đầu tiên trong lịch sử Việt Nam nhận thức được ý nghĩa của việc bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái vì sự sống còn của con người, nhất là đối với cư dân làm nông nghiệp. Đây cũng là lần đầu tiên, việc bảo vệ môi trường thiên nhiên được đưa vào luật để trăm quan và dân chúng cùng phải tuân theo.

Việc bảo vệ thiên nhiên, dường như từ bấy giờ đã được đánh giá quan trọng không thua kém gì việc dạy dân làm nông, đánh cá, mở trường dạy học.

Theo phong tục cổ truyền, người Việt có tục bẻ lấy một cành lộc để mang về nhà lấy may, lấy phước. Đó là tục hái lộc. Cành lộc là một cành đa nhỏ hay cành đề , cành si … là những loại cây quanh năm tươi tốt và nẩy lộc. Tục hái lộc ở các nơi đền, chùa ngụ ý xin hưởng chút lộc của Thần, Phật nhân năm mới. Lộc xuân hái từ những cây thuộc bộ tứ linh đa, sung, xanh, si, theo quan niệm xưa, sẽ đem lại kết quả tốt đẹp.

Nhưng từ nhiều năm nay, việc hái lộc mà thực chất là bẻ lộc, là tàn sát thiên nhiên, đã nghiêm trọng đến mức cái ý nghĩa phong tục đã biến mất, nhường chỗ cho hai chữ hủ tục gây bức xúc trong xã hội.

Đêm 30 tết Canh Dần, người dân ở Đồng Hới, Quảng Bình đã bằng mọi giá “tàn phá” cây xanh trước các trụ sở ngân hàng, kho bạc dù dưới gốc cây có… công an đứng gác. Ở Hà Nội, các tuyến phố thuộc Quận Cầu Giấy, Tây Hồ trở nên xơ xác vì chuyện hái lộc sau đêm 30, đặc biệt tại các khu vực gần chùa chiền. Không chỉ đa, sân, si, người ta “hái” bất cứ cành gì, của bất cứ loại cây gì. Không chỉ bẻ bằng tay, người ta còn mang dao ra để chặt. Có người nói: Sự chặt phá và chiếc dao là biểu tượng của sự chết chóc, của sát khí, của sự tàn hại… khiến cho cây cối của mùa xuân vốn là biểu tượng của sự sống bị sứt sẹo, què cụt, vì một chữ “lộc”. Không lẽ cứ mỗi dịp tết đến xuân về, mỗi một cây xanh sẽ lại phải lăm lăm hai, ba công an để ngăn chặn chuyện tàn sát cây nhân danh hủ tục “hái lộc”?

Vào giao thừa năm Mậu Tý, tại Hồ Hoàn Kiếm- Hà Nội, hơn 30 nhân viên của Viettel đã triển khai thực hiện chương trình “Vui lộc đầu xuân” với 10 ngàn “Lộc may mắn” là những câu đối Tết có gắn búp bê cầu may cho người dân đi chơi giao thừa. Đây là một sáng kiến rất hay nhằm giảm bớt tình trạng bẻ cành, tàn phá cây cổ thụ xung quanh hồ Gươm. Rồi thì tại hầu hết các chùa, đều có bán các loại cây “lộc” đầu năm như mía, cây sống đời. Nhiều ngôi chùa nổi tiếng như Chùa Hà, thậm chí tiến hành phát lộc cho những người đi lễ đầu năm. Nhưng tất cả những việc làm đó không ngăn được sự tàn phá của hủ tục hái lộc.

Cách đây chưa lâu, khi những đoạn video clip quay cảnh những người đi Lễ hội Hoa Anh Đào tại Hà Nội xúm vào vặt trụi ba cây Anh Đào xinh đẹp được kỳ công mang từ đất nước mặt trời mọc sang khi lễ hội còn chưa bế mạc, những người tự trọng đã đỏ mặt vì xấu hổ.

Gần đây nhất, tại Lễ hội Hoa Hà Nội, ngay dưới chân tượng vua Lý Công Uẩn, người ta, với đủ cả nam phụ lão ấu đã tranh cướp, tàn phá trong nhốn nháo và hỗn loạn đến mức những người nước ngoài được chứng kiến đã phải lắc đầu mà than rằng: “Crazy”

Những cành cây xanh, những bông hoa được những người bẻ, người cướp coi là lộc để lấy may dù bẻ cây, cướp hoa không phải là một phong tục tốt đẹp, không phải là một nét đẹp văn hóa. Đó là điều đáng hổ thẹn. Bởi việc tàn sát thiên nhiên để lấy lộc cho riêng mình nhiều khi cũng dã man cũng như tục dâng hiến sinh linh từng mông muội một thời. Và, không thể biện minh cho hành vi thiếu văn hóa và tàn phá thiên nhiên bằng bất cứ lý do gì, dù đó là tục lệ.

Bây giờ mới bắt đầu tháng hành hương của năm du lịch 2010 với dày đặc các lễ hội, các sự kiện văn hóa. Liệu những ngôi chùa hàng trăm năm tuổi, những di tích mà mỗi cành cây ngọn cỏ đều in dấu của lịch sử sẽ ra sao nếu như thiếu vắng màu xanh chỉ vì nạn “hái lộc”? Có còn lễ hội, còn văn hóa, còn lịch sử nếu hủ tục này tiếp tục được duy trì và dung dưỡng bằng sự thiếu ý thức văn hóa nhân danh tục lệ?

Năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động Tết trồng cây trong toàn dân với lời dạy: “Việc này ít tốn kém mà lợi ích nhiều”. Đã có rất nhiều ý kiến cho rằng: “Hái lộc đầu xuân” là một trong những hủ tục không nên duy trì. Vì sao chúng ta không khai xuân mới bằng cách duy trì phong tục tốt đẹp là trồng cây thay cho sự tàn sát, chặt phá cây xanh mà từ đầu thiên niên kỷ thứ nhất vua Lý Nhân Tông đã coi đó là hành vi phá hoại được đưa vào luật để cấm triệt để?


Những hình ảnh không đẹp ở nơi văn hiến

Quang cảnh Văn Miếu những ngày này không gợi nên một truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo mà thật xô bồ, hỗn độn, bởi nhiều hành vi thiếu văn hóa, thiếu tôn trọng chốn thâm nghiêm

Nước ta vốn có truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo.
Dân ta có thói quen đi lễ đền, chùa đầu năm, ấy là một tập quán đẹp.

Văn Miếu – Quốc Tử Giám trong những ngày đầu xuân luôn đông nghịt người. Nơi đây là cửa thánh hiền, là ngôi đền thờ chữ. Những người đi Văn Miếu thường cầu may mắn về đường học hành, thi cử, cầu hoạn lộ công danh.

Những năm gần đây Văn Miếu luôn quá tải người viếng thăm trong các dịp Tết hay dịp thi đại học. Người ta quan tâm tới học hành thi cử nhiều hơn, nên “lễ nghĩa”, cầu cúng cũng nhiều hơn. Quang cảnh Văn Miếu những ngày này không gợi nên một truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo mà thật xô bồ, hỗn độn, bởi nhiều hành vi thiếu văn hóa, thiếu sự tôn trọng cần có ở chốn thâm nghiêm, và thậm chí còn xâm hại di tích.

Những hình ảnh dưới đây do phóng viên VOVNews ghi lại chiều mồng 3 Tết Canh Dần tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội.

Đông nghịt người tới Văn Miếu trong những ngày đầu năm. Ngay ngoài cổng là hàng rong vây kín.

Dòng người đi vào trong không ngớt. Chen chúc nhau trước dãy nhà bia để… sờ đầu rùa lấy may mắn. Không biết bao giờ mới chấm dứt được tình trạng xâm hại di tích như thế này???

Ban quản lý đã lập một hàng rào xích sắt quanh dãy nhà bia. Nhưng hàng rào này quá yếu trước sự “nhiệt tình” của những người “hiếu học”!

Người ta chen nhau mua chữ cầu may. Mua- bán như ở chợ vì chữ được viết sẵn, treo sẵn để bán!

Hàng ăn uống nhếch nhác ngay bên của thánh hiền, rác xả ra bên cạnh.

Bái đường Đại Thành Điện là một cái chợ bán chữ, và bán đủ thứ…

Chen nhau khấn vái trong Đại Thành Điện – nơi thờ Khổng Tử và các học trò. Trong tay là tiền may mắn hay tiền công đức ???

Đặt tiền lẻ bừa bộn trên ban thờ…

Cài cả vào gốc cây…

thả lên mái Nhà Thái học…

Hình ảnh cuối cùng này…

… không cần kèm theo lời chú thích hay bình luận.

Nhưng đã đến lúc phải gióng lên một tiếng trống báo động về sự biến tướng truyền thống tốt đẹp của dân tộc; báo động về sự xâm hại giá trị vật thể và cả phi vật thể ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám./.

  • Hà Thành ( Theo VOVNEWS.VN)

Tết chặt cây và Tết sát sinh

Nguyễn Quang Thiều

Theo Tuanvietnam.net

Với thú chơi hoa đào rừng, đào núi ngày tết, chúng ta đang biến cái Tết trồng cây thành Tết chặt cây. Việc thi nhau chặt những cây đào rừng, đào núi một cách vô tội vạ vì lợi ích và thói hưởng thụ cá nhân đồng nghĩa với một lối sống thiếu giáo dục và phi văn hoá đang mỗi ngày một lan rộng.

Có một phong trào rất đáng trở thành một phong tục trong ngày Tết cổ truyền là phong trào trồng cây . Hồi tôi còn học tiểu học, cứ vào một ngày đầu năm là nhà trường tổ chức Tết trồng cây. Đó là một ngày hội thực sự. Mỗi học sinh trồng một cái cây. Rồi suốt những năm sau đó, mỗi học sinh luôn luôn chăm sóc cái cây của mình cho đến khi nó trở thành một cái cây vững trãi và toả bóng mát. Không chỉ nhà trường mà cả các thôn, xóm cũng tổ chức Tết trồng cây.

Nếu phong trào này được duy trì thì nó sẽ trở thành một phong tục đẹp. Nhưng ngược lại, nó không được tiếp tục. Và bây giờ, với thú chơi hoa đào rừng, đào núi ngày tết, chúng ta biến cái Tết trồng cây thành Tết chặt cây.

Với số lượng cành đào chuyển về riêng ở địa phận Hà Nội thì chắc chắn mỗi năm người ta ngốn hết một cánh rừng nhỏ.

Có thể nói, từ rằm tháng Chạp đến sát Tết, trên mọi nẻo đường từ các tỉnh phía Bắc về Hà Nội và các thành phố khác, chúng ta thấy một cuộc vận chuyển khổng lồ và có hệ thống những cành đào to, nhỏ với hầu hết các loại xe được huy động như xe tải, xe khách, xe du lịch, xe hơi 7 chỗ, 4 chỗ của các cơ quan Nhà nước.

Với số lượng cành đào chuyển về riêng ở địa phận Hà Nội thì chắc chắn mỗi năm người ta ngốn hết một cánh rừng nhỏ. Cứ liên tục như vậy trong nhiều năm, những cánh rừng đào sẽ không còn nữa. Trước hết, nó mất đi vẻ đẹp mà thiên nhiên đã ban tặng. Sau đó, nó làm cho con người có một thói quen xấu là tàn phá thiên nhiên vì lợi ích và những thú chơi của cá nhân mình.

Ngay ở giữa Hà Nội, những cây sưa với những mùa hoa tuyệt đẹp bị đốn hạ bằng mọi lý do của ngay cả những đơn vị quản lý cây xanh. Những hồ nước và những công viên tuyệt đẹp bị bức tử. Những di tích lịch sử và văn hoá bị các cá nhân và các tập đoàn phá vỡ cảnh quan hoặc  lấn chiếm bởi những công trình xây dựng của mình.

Việc thi nhau chặt những cây đào rừng, đào núi một cách vô tội vạ vì lợi ích và thói hưởng thụ cá nhân không ảnh hưởng gì đến an ninh quốc gia hay nền kinh tế nước nhà

Tôi cam đoan rằng: nếu chính quyền đồng ý thì sẽ có không ít tập đoàn hồ hởi và sẵn sàng phá chùa Trần Quốc hay Tháp Rùa ngay lập tức để xây khách sạn năm, bảy sao gì đấy. Nhận định này của tôi bắt nguồn từ những gì họ đã làm và những gì mà báo chí đã từng lên tiếng nhiều năm trở lại đây.

Việc thi nhau chặt những cây đào rừng, đào núi một cách vô tội vạ vì lợi ích và thói hưởng thụ cá nhân không ảnh hưởng gì đến an ninh quốc gia hay nền kinh tế nước nhà. Nhưng nó đồng nghĩa với một lối sống thiếu giáo dục và phi văn hoá đang mỗi ngày một lan rộng.

Bi hài thay, chúng ta có Tết chặt cây lại có Tết sát sinh. Nói về Tết sát sinh là tôi nói đến hành động phóng sinh trong ngày Tết ông Công, ông Táo. Tục phóng sinh (cá chép) là một tục đẹp và mang ý nghĩa nhân văn. Nhưng hãy nhìn cách phóng sinh của người dân mà xem. Ngay sau khi họ phóng sinh một con cá thì phóng sinh luôn rác thải xuống hồ, xuống sông. Ven bờ hồ và bờ sông là những túi nylon và đủ các loại rác thải khác nổi lềnh bềnh.

Số lượng những hồ nước và những dòng sông bị nhiễm độc mà chết ngày một tăng lên. Chiều 23 Tết vừa rồi, sau khi lễ ông Công, ông Táo xong, vợ tôi phải nhờ một đứa cháu mang con cá chép nhỏ đến tận một hồ nước còn khả dĩ sạch sẽ để phóng sinh cho dù nhà tôi chỉ cách sông Nhuệ mấy bước chân.

Cách đây hơn 10 năm, trong trường ca Nhân chứng của một cái chết, tôi đã nói đến cái chết của sông Nhuệ. Xác của dòng sông thối rữa và bốc mùi lên tận lưng trời. Bây giờ thì dòng sông ấy chết thật. Dòng nước trong xanh, thơ mộng với những ngọn gió sông trong lành thổi vào thành phố và các làng mạc ven sông của mấy chục năm trước giờ đây chỉ còn là một cái xác thối rữa.

Chúng ta mua những con cá để phóng sinh nhưng chúng ta lại phóng sinh chúng vào một môi trường chết do chính chúng ta gây ra một cách vô ý thức. Chính thế mà hành động phóng sinh của chúng ta trở nên bi hài và đầy thói đạo đức giả. Hành động phóng sinh thực sự có lương tâm chính là hành động bảo vệ môi trường. Cũng như hành động vì những người ngèo khổ một cách thực sự là chúng ta không tiêu xài hoang phí và không tham ô, tham nhũng tiền đóng thuế của người dân. Còn hành động mang cho người ngèo mấy gói mỳ ăn liền phần lớn vẫn là một trò diễn mà thôi.

Tết chỉ còn mấy ngày nữa, lẽ ra chẳng nên nói những chuyện buồn nản như thế này làm gì. Nhưng biết làm sao được. Cầu chúc mọi người lúc nào đó có một cái Tết vẫn có hoa đào đẹp để ngắm và vẫn thấy lòng thanh thản vì đã phóng sinh.

Chùm ảnh: Ông Táo về trời, hồ Hà Nội lại ngập rác

Hôm nay 23 tháng Chạp, là ngày tiễn ông Công, ông Táo về Trời. Ngoài những con cá chép có ý nghĩa làm phương tiện đi lại cho ông Công, ông Táo được thả xuống sông, hồ Hà Nội thì những nơi này lại phải gánh thêm rất nhiều rác rưởi.

Túi nilon, tro vàng mã, chân nhang… cùng theo xuống hồ. Ngay cả cá chép vừa được người dân thả xuống nước cũng không thể sống sót vì nước ô nhiễm, trắng bụng nổi lềnh phềnh trên mặt hồ.

Dưới đây là một số hình ảnh ghi lại tại một số hồ của Hà Nội:

a
Cá vừa thả xuống đã… phơi bụng
a
Chân nhang cũng ra hồ.
a
Hồ Giảng Võ cũng chung số phận.
a
Hồ Thiền Quang…
a
Hồ Hoàng Cầu…
a
… đến hồ Thủ Lệ đều  “bội thực” rác.
a
Rác dạt vào bờ Hồ Tây.
a
Những con cá chép này không bơi đi được vì bị mắc phải tro bát hương.
a
Tại Cầu Diễn
a
Ngao ngán ý thức của người dân.

Theo Bee.net

Người Việt đáng yêu, người Việt dễ ghét

Từ trước đến nay, một cách công khai, trên sách báo cũng như trên các diễn đàn, hình như ai cũng nói người Việt…đáng yêu.

Mà không phải chỉ có người Việt Nam mới nói thế. Nhiều người nước ngoài thường đi Việt Nam cũng không ngớt khen là người Việt Nam đáng yêu. Cách đây mấy năm, có một sinh viên người Na Uy sang Úc du học. Trên đường từ Na Uy sang Úc, anh ghé Việt Nam chơi hai tuần. Lý do ghé Việt Nam chỉ có tính chất thực dụng: Vật giá rẻ. Vậy thôi. Nhưng hai tuần ở Việt Nam đã làm thay đổi hẳn kế hoạch học tập của anh. Mê Việt Nam trong thời gian hai tuần ấy, sang Úc, anh quyết định chọn Tiếng Việt làm một trong hai môn học chính trong chương trình Cử nhân. Hỏi: Mê nhất ở Việt Nam là điều gì? Anh đáp: Con người. Và nói thêm: “Người Việt rất đáng yêu”.

Ảnh: chungta.com

Cách đây mấy ngày, tôi cũng lại gặp một sinh viên khác, cũng mê Việt Nam như thế. Sau khi học xong trung học, thay vì vào đại học ngay, cô quyết định nghỉ một năm để đi làm và đi du lịch. Sau khi qua nhiều nước, cô ghé Việt Nam. Cũng chỉ là một quyết định tình cờ. Thoạt đầu, định ở vài ba tuần. Nhưng rồi cô lại đâm mê Việt Nam. Bèn quyết định ở lại thêm vài tháng. Trong vài tháng ấy, cô xin dạy học trong một trung tâm sinh ngữ tại Sài Gòn. Cô càng mê hơn nữa. Về lại Úc, cô bèn quyết định học tiếng Việt để sau này có cơ hội quay sang làm việc lâu dài tại Việt Nam. Hỏi lý do, cô cũng đáp như anh sinh viên người Na Uy kể trên: “Người Việt đáng yêu”.

Người Việt đáng yêu như thế nào? Tôi chưa bao giờ có ý định làm một cuộc điều tra thật đàng hoàng về đề tài này. Nhưng từ những gì tôi nghe từ các sinh viên cũng như bạn bè, đồng nghiệp của tôi, những nét đáng yêu nhất của người Việt Nam thường được nêu lên là: vui vẻ, cởi mở và thân thiện.

Tuy nhiên, tất cả những điều kể trên chỉ là một khía cạnh. Có một khía cạnh khác, vì lịch sự, người khác ít nói; và vì tự ái, chúng ta cũng ít khi đề cập: Có vô số người chê người Việt là cục cằn, thô lỗ, ích kỷ, tham lam vặt, hay nói dối vặt, thiếu kỷ luật, thiếu lịch sự, nói chung, là…dễ ghét. Ngay chính những người được xem là “mê” Việt Nam cũng thấy điều đó. Và dĩ nhiên, với tư cách là người Việt Nam, chúng ta cũng thừa biết điều đó.

Thật ra, ở quốc gia nào cũng có những người đáng yêu và những người dễ ghét. Đó là chuyện bình thường. Tuyệt đối không có gì đáng ngạc nhiên cả. Chỉ có vấn đề là: ở nhiều nơi, nét đáng yêu và đáng ghét ở con người chủ yếu là do cá tính, hay nói cách khác, do Trời sinh; còn ở Việt Nam (nói riêng, chứ VN không phải trường hợp duy nhất) chủ yếu do văn hoá. Ở những nơi khác, sự phân bố của những người được xem là đáng yêu và những người bị xem là đáng ghét hoàn toàn có tính ngẫu nhiên; ở Việt Nam thì khác: nó có tính quy luật để theo đó, người ta có thể vẽ lên được một “bản đồ” đáng yêu / đáng ghét của người Việt một cách khá chính xác.

Đại khái “bản đồ” ấy như thế này:

Người Việt rất đáng yêu trong quan hệ cá nhân và ở những nơi quan hệ cá nhân đóng vai trò chủ đạo: gia đình, bàn tiệc, quán nhậu, và hàng xóm. Ở những nơi đó, người Việt, nói chung, rất nhiều tình cảm và tình nghĩa. Và cũng ở những nơi đó, ít ai phàn nàn về người Việt.

Nhưng vượt ra ngoài quan hệ cá nhân thì khác. Bước vào không gian công cộng ở Việt Nam, từ uỷ ban nhân dân đến công an phường, quận, thành phố; từ bưu điện đến bệnh viện; từ bàn hải quan đến văn phòng xuất nhập cảnh, v.v…ở đâu cũng thấy có nhiều người Việt Nam dễ ghét.

Cái dễ ghét ấy có thể được nhìn thấy ngay trên các chuyến bay về Việt Nam: Theo nhận định của nhiều người vốn đi nhiều, ít có tiếp viên hàng không nào dễ ghét như tiếp viên hãng Hàng Không Việt Nam; ít có công an cửa khẩu và nhân viên hải quan nào dễ ghét như những người làm việc tại các sân bay quốc tế tại Việt Nam. Một sinh viên người Úc, rất mê Việt Nam, và vì mê Việt Nam, cuối cùng, lấy vợ Việt Nam. Chính trong thời gian làm đám cưới, phải chạy vạy làm đủ các loại giấy tờ, từ hôn thú đến bảo lãnh vợ sang Úc, anh phờ phạc cả người. Quay về Úc, anh than: Chưa bao giờ anh thấy nhân viên hành chính ở đâu dễ ghét bằng các nhân viên hành chính ở Việt Nam.

Một người bạn khác của tôi, về Việt Nam thăm thân nhân bị bệnh, phải nằm bệnh viện, than: Chưa bao giờ thấy bác sĩ và y tá ở đâu lại dễ ghét như ở Việt Nam. Mặt mày ai cũng hầm hầm hay lạnh tanh. Người ta hỏi gì cũng quát, nạt. Họ chỉ dịu giọng được một lát khi nhận tiền lót tay. Một người bạn khác rất có thiện chí giúp đỡ Việt Nam, nhiều lần tổ chức quyên góp từ quần áo, sách vở đến máy vi tính ở Úc để chuyển về tặng cho người Việt; nhưng sau đó, đâm nản, cuối cùng, bỏ cuộc. Anh nói: “Mình mang quà về giúp, nhưng ở đâu cũng bị làm khó dễ.” Và kết luận: “Người Việt thật dễ ghét!”

Xin lưu ý: những nhân viên các cấp bị xem là dễ ghét trong công sở ấy có thể trở thành cực kỳ dễ thương với bạn bè, người thân hoặc người quen. Một viên công an mặt mày lúc nào cũng lạnh như tiền có thể là một người cởi mở, hào hiệp và hào phóng khi ngồi vào bàn nhậu với bạn bè. Nhưng trong quan hệ công cộng thì họ lại biến thành một người khác hẳn.

Có thể nói gọn lại thế này: Trong quan hệ cá nhân, người Việt thường đáng yêu; nhưng trong quan hệ công cộng, nhất là ở công sở, người Việt thường rất dễ ghét.

Cũng có thể nói một cách khái quát hơn: ở Việt Nam, một số không ít người  cứ hễ có chút quyền lực, người ta liền biến ngay thành người dễ ghét. Bản tính dễ thương đến mấy cũng thành dễ ghét.  Bởi vậy, nhiều người nhận xét: Chơi với người Việt thì vui, nhưng làm việc với người Việt thì đúng là một cực hình. Trên bàn nhậu, ai cũng thông minh, biết điều, cởi mở; nhưng quay lại bàn giấy thì người ta lại khó khăn, tắc trách.

Do đó, vấn đề không phải là bản tính mà là văn hoá.

Bạn có nghĩ vậy không?

  • Bài viết do một bạn đọc gửi đến HNX

Tại người hay tại môi trường văn hóa

Gần đây, ở Hà Nội năm nào người ta cũng tổ chức các lễ hội hoa. Lễ hội nào cũng “hoành tráng” với hàng ngàn chậu hoa, trong đó có nhiều loại được xem là kỳ hoa, được trưng bày lộng lẫy. Năm nào cũng có cả hàng chục ngàn người đến thưởng thức. Năm nào thành phố cũng huy động một lực lượng công an cực kỳ hùng hậu, nghe nói đến năm bảy trăm người, đến bảo vệ. Nhưng năm nào kết cục cũng như nhau, vô cùng nhếch nhác: Người ta dẫm đạp lên hoa, ngắt hoa, thậm chí, cướp cả chậu hoa hay cành hoa mang về nhà. Một lễ hội của cái đẹp, rốt cuộc, để lại một hình ảnh vô cùng xấu về một nếp sống rất thiếu văn minh và văn hoá.

Một câu hỏi không thể không đặt ra: Tại sao?

Nên nhớ, ở Việt Nam, không phải chỉ có Hà Nội mới tổ chức các lễ hội hoa như thế. Cuối năm vừa rồi, ở Đà Lạt cũng có festival hoa. Cũng đẹp. Cũng lớn. Nhưng không hề nghe nói đến nạn dẫm đạp lên hoa, ngắt hoa hay cướp hoa. Ở Sài Gòn, cũng thế. Năm nào cũng có chợ hoa. Cũng có cả hàng chục ngàn người nườm nượp đến xem. Cũng chụp hình làm kỷ niệm. Nhưng không nghe ai nói đến cảnh đạp lên hoa để chụp hình. Cũng không nghe ai nói đến cảnh người ta nhào đến giật các cành hoa rực rỡ ấy để mang về nhà mình chưng bày.

Nạn dẫm đạp lên hoa, ngắt hoa, giật hoa và cướp hoa chỉ xảy ra ở Hà Nội.

Tại sao?

Nhiều người nói: Tại người Hà Nội. Tôi không tin: Người Hà Nội xưa nay vẫn nổi tiếng là thanh lịch cơ mà? Người ta lại nói: Không phải là dân Hà Nội gốc mà là những người tứ xứ đến sinh sống ở Hà Nội. Tôi cũng không tin: Ở đâu lại chẳng có những người tứ xứ đến sinh sống? Về phương diện này, độ tạp về dân cư của Hà Nội chưa chắc đã bằng Sài Gòn hay Đà Lạt, những nơi có một lịch sử khá mới, rất hiếm có những người tự xưng là dân gốc. Có người lại nói: Đó là những phần tử thiếu giáo dục. Tôi lại càng không tin: Xem hình những cảnh dẫm hoa, giật hoa và cướp hoa đăng trên báo, tôi thấy họ thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau, già có, trẻ có, nhưng tất cả đều ăn mặc đàng hoàng đẹp đẽ. Chắc chắn họ không phải là đám du thủ du thực.

Tôi nghĩ chúng ta không thể tìm được câu trả lời nếu chỉ chăm chăm tìm kiếm gốc gác của những người ấy. Cho họ là người Hà Nội gốc hay Hà Nội mới chỉ gây nên những kỳ thị mang tính địa phương vừa không đúng vừa chỉ gây chia rẽ một cách vô ích.

Vậy tại sao chuyện dẫm hoa, nhổ hoa, ngắt hoa, cướp hoa chỉ xảy ra ở Hà Nội?

Xem các bức ảnh đăng báo, tôi chú ý đến điều này: Những người ấy vừa dẫm lên hoa vừa cười toe toét. Họ vừa cướp hoa vừa cười toe toét. Nhìn, tôi tin chắc họ không phải chỉ là một thiểu số ít ỏi kiểu “con sâu làm rầu nồi canh”. Ít, họ không thể lộng hành như thế khi có cả hàng mấy trăm công an và hàng mấy ngàn nhân viên an ninh canh gác khắp nơi. Tuy nhiên, tôi cũng tin điều này nữa: Trong số những người có “thành tích” dẫm hoa, nhổ hoa, cướp hoa ấy, không ít người đã từng đi Đà Lạt và Sài Gòn; không ít người từng tham dự các festival hoa ở Đà Lạt cũng như chợ hoa ở Sài Gòn. Nhưng ở đó, họ không làm như vậy. Ở đó, họ biến thành những người đàng hoàng, lịch sự, tử tế.

Vậy, tại sao?

Vấn đề theo tôi, không phải là do con người mà là do ở môi trường, chủ yếu là môi trường văn hoá. Nói một cách tóm tắt, theo tôi, có những môi trường có khả năng giúp con người kiềm chế được bản năng; và có những môi trường làm cho người ta tự nhiên trở thành buông thả, bất cần, mặc cho các thói xấu tha hồ lộ diện.

Tôi từng thấy rất nhiều người Việt Nam, khi ra nước ngoài, tự nhiên trở thành lịch sự hơn hẳn. Đi, họ biết nhường đường. Đụng phải người khác, họ biết xin lỗi. Mua hàng xong, họ biết cám ơn. Hút xong gói thuốc lá, họ loay hoay tìm thùng rác để vất. Những người ấy, tôi biết, về lại Việt Nam, đâu lại hoàn đấy. Ra đường, họ sẽ chen lấn không kém người nào cả. Đụng ai, họ sẽ trừng mắt lên nhìn. Mua hàng xong, họ lẳng lặng bỏ đi. Hút xong gói thuốc lá, họ sẽ vất thẳng gói thuốc xuống đường.

Dĩ nhiên tôi không ngây thơ đến độ tin là môi trường có thể giết chết hết mọi thói xấu. Nhưng tôi tin là nó có thể kiềm chế được, ít nhất, phần nào đó, nhất là những thói xấu trong giao tiếp. Con người, không ai muốn bị người khác coi thường. Để tránh bị coi thường, người ta thường có khuynh hướng tuân theo các quy ước và chuẩn mực văn hoá chung quanh. Nhưng như vậy thì cần có hai điều kiện. Thứ nhất, những quy ước và chuẩn mực ấy phải rõ ràng và phải phổ biến. Thứ hai, chúng trở thành tiêu chí để đánh giá nhân cách mọi người trong xã hội. Người nào đi ngược lại các quy ước và chuẩn mực ấy tự nhiên trở thành dị hợm ngay tức khắc. Chính vì sợ bị xem là dị hợm, người ta tự kiểm soát mình một cách khắt khe hơn, nghĩa là…lịch sự hơn.

Tôi tin đó là lý do chính khiến một số người có thể thản nhiên dẫm hoa, nhổ hoa và cướp hoa ở nơi này lại không hề làm như vậy ở những nơi khác.

Bởi vậy, biện pháp chính để ngăn chận những hành vi kém văn minh và văn hoá ấy là phải xây dựng cho được một thứ văn hoá công cộng ở đó mọi người biết và tôn trọng những quy ước và chuẩn mực văn hoá chung. Mà văn hoá công cộng lại không thể tách khỏi toàn cảnh văn hoá của xã hội. Có điều nói đến vấn đề toàn cảnh văn hoá của xã hội, chúng ta lại sẽ đụng đến vô số những vấn đề khác vừa phức tạp vừa dài dòng.

Thôi, để dịp khác.

  • Nguyễn Hưng Quốc