Nói ngọng

Vương Trí Nhàn

Theo Blog Vương Trí Nhàn

Cách đây ba bốn chục năm, trong các gia đình Hà Nội, người ta đã có nỗi lo là lo con cái nói ngọng. Đáng nói làm gì thì đọc nàm gì, đáng giới thiệu với người khác tôi ở bên Hàng Lọng thì bảo tôi ở bên Hàng Nọng. Cái ngọng bấy giờ thật rõ quê mùa, mộc mạc.

Ngày nay, lối ngọng ấy hầu như đã được thanh toán, nhưng lại nảy nòi một lối ngọng mới: ngọng ngược. Sáng sáng, cái xe đạp bánh mỳ rong đánh thức cả khu tập thể bằng tiếng rao lanh lảnh “Bánh mỳ lóng đây!”. Trưa trưa, mấy cô quang gánh qua nhà thiết tha mời mọc “Có ai ăn rượu lếp?” Bạn bè rủ nhau: “Ra làm chén lước đã”. Đồng hương lâu này gặp nhau kể chuyện “Dạo lày thằng ấy ló trúng quả lắm!.

Nhưng đây chưa phải là chỗ duy nhất phân biệt cái ngọng thời nay với cái ngọng thời xưa. It ra, còn phải lưu ý mấy “nét đặc thù” nữa.

Một là, trong số người bây giờ, có cả những người tạm gọi là rất có văn hoá. Cả một số học sinh cấp ba, một số sinh viên cũng nói ngọng. Người đang đi học, không được chữa chạy kịp thời, cố nhiên là nguồn bổ sung vô tận cho người đã ra trường ngọng một cách công khai thoải mái.

Hai là, không gian để người ta nói ngọng đang được mở rộng, cách nói ngọng đang xâm nhập cả vào những khu vực xưa kia nó bị cấm cửa. Người ta nói ngọng ở nơi công cộng, nhà ga, bến tàu, lúc về bên mâm cơm với gia đình đã đành, có người lại còn nói ngọng cả khi có việc lên đài, lên ti-vi nói cho cả triệu người nghe. Nhiều người Việt Nam ra nước ngoài vẫn nói ngọng trước sự ngạc nhên của người nước ngoài học tiếng Việt, họ (những người nước ngoài ấy) tưởng đấy là một thứ tiếng Việt mà họ chưa biết!

Nỗi lo này có phần giống với nỗi lo của một người làm nghề nghiên cứu ngôn ngữ. Sau khi nhận ra rằng hình như bây giờ ai muốn nói ngọng thì tuỳ, không ai thấy ngượng vì nói ngọng và nghe người khác nói ngọng nữa, trong đầu óc anh chợt nảy ra một dự báo khoa học:

– Tôi chỉ sợ khi nhiều người nói ngọng quá thì lâu dần, lại hoá ra họ nói đúng, mà mình lại bị coi là nói ngọng không biết chừng. Bấy giờ khi mình nói mình đang làm việc ở Hà Nội, người ta sẽ bảo là ngọng rồi. Hà Lội mới đúng” – và câu đầu tiên của Truyện Kiều phải sửa thành:
“Trăm lăm trong cõi người ta.”

Advertisements

Thế nào là một người Hà Nội thanh lịch?

Hà Nội, thủ đô một đất nước có bốn ngàn năm văn hiến. Nơi hội tụ những tài năng, những trí tuệ tiêu biểu của dân tộc Việt Nam. Từ xa xưa, đã được nhân dân cả nước ca ngợi: “Ngàn năm văn vật đất Thăng Long” hoặc “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài. Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”…

Những câu mến yêu đó nhằm nói về những nét đẹp văn hoá trong cử chỉ, lời ăn tiếng nói và hành động của người Thăng Long, người kinh kỳ, kẻ chợ, người Hà Nội, người thủ đô.
Xin được lược kê đôi nét về cử chỉ:
Hào hoa mà không kênh kiệu, khoe vẻ giàu sang.
Phong nhã mà không lề mề, chậm chạp, lù dù.
Linh hoạt mà không xấc xược, láu lỉnh, kệch cỡm.
Vui tươi duyên dáng mà không suồng sã, lẳng lơ.
Vừa thông minh, lịch thiệp mà không ba hoa, hời hợt.

Vừa chững chạc, khiêm nhường, vừa ân cần, tế nhị… khiến cho ai đó mỗi khi gặp gỡ, giao thiệp đều cảm thấy hài lòng, quý trọng và cảm kích những giây phút hội ngộ đầy thoải mái. Khi ra về vẫn luyến tiếc và mong sao có dịp tái ngộ, hàn huyên.

Khi gặp người quen thì tươi cười chào hỏi, dù người đó ít tuổi hơn, vai vế trong họ hàng và xã hội có kém hơn… Lại càng chủ động hỏi han ân cần để kẻ dưới khỏi tủi thân hoặc chê trách.

Trái lại, đối với người có chức, quyền cao hoặc giàu sang thì người Hà Nội thanh lịch có ý lảng tránh… để khỏi mắc tiếng “Thấy người sang bắt quàng làm họ”. Bởi họ biết rõ đó là của phù vân, là quyền chức “nhất thời”.

Nhưng, đối với các vị đáng bậc cha chú, người Hà Nội thanh lịch phải ngả mũ chào, tỏ lòng tôn kính với mong muốn được phụ giúp việc gì đó có ích để các bậc trên được hài lòng về con cháu.

Trong mối quan hệ bạn bè nam nữ, thanh niên Hà Nội làm quen với phái nữ bằng những cử chỉ và lời nói lịch sự tế nhị biểu lộ một chiều sâu tâm hồn trong sáng, một trí tuệ thông minh… Chinh phục ai đó bằng hành động cao thượng, bằng sự cảm mến, quý trọng, tận hưởng.

Còn các thanh nữ thủ đô thuỳ mị, duyên dáng kín đáo. Yêu ai, ghét ai cũng để trong lòng. Nhưng cô ấy khinh bỉ ra mặt những kẻ ăn nói thô lỗ, bỉ ổi, sỗ sàng, ăn nói huênh hoang “trưởng giả học làm sang”.

Phụ nữ Hà Nội thanh lịch được tiếp xúc rộng rãi biết phân biệt người có tài, có đức với kẻ ba hoa con ông cháu cha, áo quần bảnh bao, ăn tiêu xa hoa khoe của. Các nàng chỉ cười bằng ánh mắt. Lấy nón che nghiêng hoặc khăn che miệng khi tủm tỉm cười. Họ rất sợ đi với bạn quen lối cười hô hố, cười toe toét rũ rượi, ảnh hưởng lây tới tư cách mình.

Lời nói và giọng nói thanh thiếu nữ Hà Nội đến là dễ nghe, bởi chất dịu dàng, duyên dáng, kèm theo chữ ạ rất nhỏ cuối mỗi câu, nghe sao mà xao xuyên. Ví dụ:
– “Thưa ông, mẹ cháu xin gửi lại ông tờ báo ạ!”.
– “Thưa thầy, thầy giảng giúp cho em bài này ạ!”
– “Chị ơi! Ðây có phải nhà bác A không ạ?”
Nghe vậy ai nỡ nào trả lời cộc lốc, hững hờ được.

Những bữa cỗ đông người dự, người Hà Nội thanh lịch bao giờ cũng gắp những miếng ngon nhất mời các vị cao tuổi với lời lẽ trân trọng: “Xin mời cụ nếm thử ạ!”. Sau cùng, mới nhận miếng nhỏ nhất cho mình.

Ðến dự lễ cưới với thái độ vui tươi, nhưng không lợi dụng sự mừng vui ấy mà rượu chè say khướt và nói năng bừa bãi, khôi hài bằng những câu dung tục, rẻ tiền.

Còn đi dự lễ tang, dù thân hay sơ, người Hà Nội có văn hoá không phì phèo thuốc lá, trò chuyện oang oang, cười nói nhởn nhơ, mà phải có cử chỉ, nét mặt u buồn tỏ ý chia sẻ nỗi đau thương. Khi đi đường gặp đám tang, người Hà Nội đều ngả mũ chào linh hồn người quá cố.

Ðến bệnh viên thăm bệnh nhân, thăm hỏi ân cần, nhẹ nhàng… Khỏi phiền người khác đang đau mệt cần yên tĩnh.

Những nét đẹp – văn hoá – không chỉ dành riêng cho thanh niên hoặc người nhiều tuổi. Nó thấm sâu, lan rộng tới các em thiếu niên, nhi đồng.

aodai

Tôi xin kể mẩu chuyện này:

Năm 1975 một buổi tối tôi đi tàu điện từ chợ Hôm lên Bờ Hồ lo không kịp chuyến tàu cuối vào Ngã Tư Sở. Cho nên tàu mới đến Bờ Hồ từ trên toa tôi đã hỏi rất to một cách bâng quơ: “Tàu nào vào Ngã Tư Sở đó các bác ơi?”.
Có nhiều tiếng đáp của các em nhỏ: “Ðây, đây, lại đây ông ơi!”. Mừng quá, tôi đi về phía các em. Tôi được nghe những lời nói chân tình: “Chúng cháu cũng về chuyến này, ông ạ!”. Rồi các em chìa tay dìu tôi lên và hỏi ríu rít: “Ông về đâu ạ?”. “Ông xuống đoạn nào ạ?”. Những tiếng ạ luôn vang lên tai tôi đã nói lên đầy đủ nếp sống văn hoá. Khi lấy lại tiền vé thừa cho tôi, các em ân cần đưa tận tay, nói rành rõ: “Ðây là tờ 5 hào, đây là tờ 2 hào, ông ạ!”. Ngồi trên toa, tôi lắng nghe các em nói chuyện, đôi khi tranh cãi sôi nổi với những lý lẽ sắc bén về bố cục, về đường vét về màu sắc một bức tranh nào đó của danh hoạ Picasso, Levitan, Tô Ngọc Vân… khiến tôi tin là các em vừa được học ở một lớp học vẽ nào đó.

Gần đến gò Ðống Ða, trước khi xuống, các em chào từ biệt tôi kèm theo lời dặn dò: “Chúng cháu xuống đây. Ông chuẩn bị đến chỗ đỗ sắp tới là Ngã Tư Sở đó ạ!”. Dứt khoát đó không phải là sự bột phát, ngẫu nhiên mà có nguồn gốc từ xa xưa. Bất giác, tôi liên tưởng tới trí tuệ thông minh của người Âu Việt, Lạc Việt mà tiêu biểu nền văn minh đó là kỹ thuật đúc trống đồng. Dù phải trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc, rồi gần trăm năm hết Pháp, Nhật, đến Mỹ xâm chiếm, nhưng ngoài trí tuệ thông minh và lòng dũng cảm, nhân dân ta còn biết chắt lọc, lược bỏ đi những gì là cổ hủ, lạc hậu. Và tiếp thu những tinh hoa của các nền văn minh lớn của nhân loại: “Trung Hoa, Ấn Độ, Pháp, Nhật, Mỹ… để tạo nên một sắc thái độc đáo vừa tài hoa, vừa thanh lịch Việt Nam mà kết tinh là ở thủ đô Hà Nội”.

Người Hà Nội thanh lịch biết tuỳ nghi sử dụng các kiểu quần khăn mũ, hài hoà màu sắc, phù hợp với hoàn cảnh công việc hoặc nghi lễ… khác hẳn lối tuỳ tiện Âu Mỹ, dự quốc lễ vẫn ăn mặc hở hang như dạo mát trên bãi biển. Hoặc ăn uống xô bồ không cần để ý tới ai, cứ nhồm nhoàm nhai, mút tay mỡ chùn chụt… dù đó là giữa hội nghị văn học quốc tế (xem “Một thời lầm lỗi” của Lê Lựu sang thăm Mỹ 1989). Người Hà Nội rất hay “xin lỗi” dù họ chẳng có lỗi. Có một hôm tôi đang ngồi nói chuyện với ông anh họ, bác gái ở trong nhà đi ra, khẽ né mình rồi nói nhẹ.

Người Hà Nội cũng hay nói “cảm ơn”. Mua sách báo xong cũng “cảm ơn”. Cắt tóc, bơm xe xong, dù trả tiền rồi, vẫn “cảm ơn”. Sự cảm ơn lẫn nhau tạo nên một không khí ấm áp tình người, làm cho ta tạm quên giây phút những vất vả cuộc đời.

Những dẫn chứng trên, dẫu sao vẫn chỉ là sơ lược những nét duyên dáng thanh lịch của người Hà Nội

Mai Khánh (Người Hà Nội)/36pho.vn