Tuổi trẻ thành phố với ngày hội môi trường

Hồng Phượng
Theo ThiênNhien.Net

ThienNhien.Net – Nằm trong hoạt động trọng tâm của Tháng Thanh niên 2010, sáng 28/03, Ngày hội “Tuổi trẻ thành phố với môi trường” do Thành đoàn Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) tổ chức đã khai mạc tại Nhà văn hóa Thanh niên, thu hút hàng nghìn đoàn viên, thanh niên thành phố tham dự.

Sau lễ khai mạc, nhiều hoạt động thiết thực đã được diễn ra đồng loạt như Ngày Chủ nhật xanh – làm sạch 15 tuyến đường trọng điểm của thành phố; cải thiện môi trường tại hai điểm ô nhiễm ở quận 2 và Bình Thạnh; giới thiệu website “Thanh niên Thành phố hành động vì môi trường”; ra mắt bản đồ số hóa các điểm đen ô nhiễm trên địa bàn thành phố; phát tờ rơi tuyên truyền bảo vệ môi trường…

Tại Nhà văn hóa Thanh niên, ngoài 20 gian hàng triển lãm, giới thiệu sản phẩm tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường, đông đảo đoàn viên, thanh niên TP. HCM cũng được tham gia vào nhiều hoạt động sôi nổi khác.

Thu hút khá đông các bạn trẻ là hoạt động làm túi giấy do Co.op Mart An Đông tổ chức. Dự kiến 6.000 túi giấy sẽ “ra đời” trong ngày hội và được Co.op Mart An Đông dùng để khuyến khích người tiêu dùng sử dụng thay thế túi ni-lông.

Kế đến là cuộc thi “Thiết kế sản phẩm cổ động bảo vệ môi trường” với khá nhiều sản phẩm ấn tượng như thùng rác trái tim của Quận đoàn 6 với thông điệp “Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ trái tim của bạn”; hay sản phẩm bàn CD của Tổng công ty Sài Gòn với thông điệp “Tận dụng mọi thứ có thể”.

Bên cạnh đó là các phần thi “Tiểu phẩm tuyên truyền bảo vệ môi trường”, vẽ tranh “Thông điệp xanh” trên bức tường hình chiếc lá 2x15m với những ý tưởng bảo vệ thành phố xanh – sạch – đẹp; cuộc thi chìa khóa tri thức “Môi trường xanh” và diễn đàn Tiếng Anh “Thanh niên với môi trường”…

Một phần cơm dùng… 10 túi nilon

Một phần cơm dùng tới… 10 túi nilon. Ti tỉ các hàng hóa khác, thứ nào cũng có túi nilon “đồng hành”. Túi nilon được người dân sử dụng “xả láng” mà chẳng mấy ai bận tâm đến tác hại nghiêm trọng của nó.

Mỗi ngày dùng 5kg túi nilon

Hàng trăm túi nilon đựng thức ăn đã sẵn sàng tới tay người dùng.

Túi nilon bao lâu nay đã quá gắn bó với cuộc sống con người. Đây là mặt hàng không thể thiếu ở hầu hết các cửa hàng từ lớn đến nhỏ. Trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày, túi nilon đang được tận dụng một cách vô tội vạ. Từ quán cơm bình dân, các khu chợ cho tới các cửa hàng, siêu thị, chỗ nào cũng “ngập” túi nilon.

Có mặt tại quán cơm tấm Cây Khế trên đường Nguyễn Oanh (Q.Gò Vấp, TPHCM) vào giờ cao điểm, đập vào mắt PV là từng thùng cơm, canh, nước mắm… được chia nhỏ trong hàng trăm túi nilon với đủ kích cỡ. Tất cả được đóng gói sẵn để có thể đáp ứng nhanh nhất cho khách hàng có nhu cầu mua cơm về. Ngay trên tủ chứa đồ ăn, ba bịch lớn hộp xốp đựng cơm vừa được một cậu nhân viên giao hàng đưa đến.

Một phần cơm mua tại đây để mang về sẽ sử dụng không dưới 10 bao bì nhựa: hộp đựng cơm, thìa nhựa, đũa bọc trong túi nilon mỏng, canh, nước mắm, nước tương, nước thịt, thức ăn, rau sống… mỗi thứ đều được gói trong một túi bóng nhỏ. Tất cả các món trên trước khi trao cho khách sẽ được cho vào một bao xốp lớn.

Cô chủ quán cơm tấm này cho biết, mỗi ngày họ bán trên 100 phần cơm mang về, sử dụng hết trên 5 ký túi nilon, đồ nhựa các loại. “Đâu phải mình tiệm tôi, chỗ nào bán cơm cũng vậy thôi”, người phụ nữ này khẳng định.

Túi nilon, hộp xốp, bao bì nhựa không chỉ ảnh hưởng lâu dài tới môi trường mà khi đựng thức ăn còn độc hại với người dùng.

Cửa hàng tạp hóa của anh Huấn ở chợ Tân Trụ (Q.Tân Bình), túi nilon được treo ngay phía trước để khách hàng rút cho tiện. Anh Huấn cho biết: “Mỗi ngày tôi dùng hết khoảng 3kg túi bóng. Mình muốn hạn chế cũng đâu được, không có túi đựng, ai mua”.

Theo anh Huấn, nhiều khách hàng làm như “nghiền”… túi nilon, mua món gì cũng đòi bỏ riêng từng bọc, “Lẽ ra tất cả có thể bỏ chung một bịch. Có người chỉ mua có mấy chục ngàn mà dùng hết hàng chục bịch nilon. Nhiều bà nội trợ xách làn đi chợ nhưng hàng hóa vẫn đóng bịch”.

Biết hại vẫn phải dùng

Kết quả khảo sát của Sở Tài nguyên – Môi trường TPHCM công bố cuối tháng 9/2009: mỗi ngày người dân TP sử dụng khoảng 70 tấn bao bì nhựa, trong đó hơn 50 tấn là bao bì nilon.

Theo kết quả này, tỷ lệ bao bì nhựa dùng trong mặt hàng thực phẩm cao hơn bao bì giấy gần 2 lần; mặt hàng quần áo 2,51 lần. Có đến gần 78% người tiêu dùng mua hàng yêu cầu được cung cấp bao bì nhựa.

Đảo lộn chuỗi thức ăn trong tự nhiên, thải khí độc ra môi trường, gây tắc nghẽn các hệ thống thoát nước, khó phân hủy… tác hại nghiêm trọng của túi nilon nhiều người biết, nhưng điều này không mấy tác động đến thói quen khi đi chợ, đi mua sắm của người dân bởi túi nilon dường như đã trở thành vật không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày.

Chị Nguyễn Thị Vân (ngụ ở phường Phú Thọ Hòa, Q.Tân Phú) cho biết, do ý thức được tác hại của túi nilon nên chị đã mua 2 chiếc túi làm từ sợi tổng hợp để sử dụng dài lâu. Thế nhưng, nếu chị nhớ không nhầm thì 2 chiếc túi đó vẫn nằm yên trong tủ bếp gần hai tháng nay. “Mình toàn đi mua sắm đột xuất. Hơn nữa, túi nilon sẵn quá, rất tiện nên khó mà “nói không” với chúng”.

Chị Nguyễn Thị Thanh, nhân viên ngân hàng làm việc ở Q.1 cho biết, việc mua cơm đựng trong túi nilon đã quá quen thuộc với chị. “Tôi rất ngại ăn ở tiệm nên toàn mua cơm đưa về văn phòng. Mỗi phần cơm tầm mười bịch đó, mỗi lần mở bịch lấy đồ ăn đã đủ mệt”.

Không chỉ quán cơm, các quán nước cũng tận dụng triệt để túi nilon.

Chị Thanh cho hay, sau mỗi bữa trưa, thùng rác cơ quan lại đầy ắp, chủ yếu là hộp xốp đựng cơm và túi nilon. “Mọi người đều biết là độc nhưng không thấy được tác hại trước mắt nên cứ dùng đều đều. Mà có thấy ai chết vì ăn cơm đựng trong bịch đâu cơ chứ!”.

Giả sử trung bình mỗi người dân Việt Nam dùng 1 túi nilon/1 ngày nghĩa là 1 ngày có 86 triệu chiếc túi được dùng, 1 năm tổng số túi nilon được dùng là 31,4 tỉ chiếc, có khối lượng tương đương với 1 triệu tấn nhựa. Số nilon con người thải ra 1 năm có thể phủ kín bề mặt trái đất với độ dày tới 0,8mm.

Túi nilon khi chôn vùi dưới đất phải mất 40 – 60 năm mới có thể phân huỷ hết. Ước tính trên thế giới 1 năm có 9,3 tỷ tấn túi nilon không được thu gom, phải tự phân huỷ. (Theo Phụ nữ Việt Nam)

Thiên nhiên điêu đứng

Vương Trí Nhàn

So với những đoạn đường Trường Sơn thì con đường chúng tôi đi hôm ấy từ Phú Thọ qua Thanh Sơn về Trung Hà không phải là xấu, và đất bụi chưa lấy gì làm nhiều. Nhưng đoạn đường trong liên tưởng là thuộc thời chiến tranh, còn hôm nay chúng tôi đi trên con đường thời bình.

Bởi vậy tôi nghĩ mình có quyền sốt sáy không yên, và cả một chút xót xa, khi nhìn những cây nhỏ lúp xúp bên đường. Lá nào lá nấy phủ đầy bụi, bụi dày đặc; nhiều chỗ một vài giọt mưa xuân để lại những vết loang lổ chỉ tố thêm cho người ta biết rằng không phải một mà là nhiều lớp bụi đã chồng lên nhau, để xóa đi màu xanh và làm cho không một cây nào còn là cây nữa.

Đến cả cây cối thiên nhiên cũng vì người mà phải sống vạ vật thế này ư? – nhiều sự liên tưởng dồn dập kéo đến trong tâm trí tôi. Có lúc nghĩ đến những hàng cây bị biến thành chỗ treo hàng hóa nhiều vỉa hè Hà Nội. Lại có lúc nghĩ đến một mẩu tin trên báo về giống tê giác. Trong khi ở Malaysia, tê giác đẻ rất đều kỳ thì ở một vườn quốc gia Việt Nam, giống này tịt đẻ, chỉ vì người ta vừa làm một con đường băng qua khu rừng nó sống.

Nhưng thiên nhiên không phải chỉ khổ lây với người.

Tệ hại hơn, trong nhiều trường hợp khác, nó còn là đối tượng bị chúng ta hủy hoại.

Ở nhiều nước trên thế giới, người ta cấm đánh bắt cá nhỏ, ai trót câu được mà không thả chúng về nguồn sẽ bị phạt nặng. Còn ở ta, ngay giữa Hà Nội, ngoài sông Hồng, người ta dùng cả điện ắc quy để diệt cá.

Trong Nam Hoa kinh, một triết gia nhiều chất hư vô là Trang Tử từng nêu ra một nhận xét, những cây gỗ vô dụng có cái lợi, không ai thích đẵn nó, vì thế nó sống mãi, trong khi những cây hữu dụng lại sớm bị nhăm nhe khai thác.

Cây cối ở ta đang làm chứng cho nhận xét đó của Trang Tử. Mấy năm trước đã có chuyện mấy cây sưa trong công viên nhà nước bị chặt bán. Còn đây là chuyện ở Quảng Bình dịp Tết Canh Dần vừa qua: hàng loạt cây bên các ngân hàng và các tiệm vàng bị tàn phá. Vì người ta tin rằng cây ở đó có mang theo lộc. Thật đúng là “cháy thành vạ lây”. Bỗng dưng tàn đời không có lý do nào cả.

Động vật hoang dã cũng nếm đủ nỗi khổ đúng theo kiểu mà Trang Tử đã cảnh báo. Chỉ vì thịt chúng ngon, lạ, các bộ phận của chúng là những vị thuốc chữa bệnh, mà các loài vật tuyệt vời đó bị săn đuổi đến cạn kiệt.

Riêng loài gấu ở ta lại còn rơi vào cái bi kịch thê thảm là bị hành hình dần dà theo nhịp điệu của cái cưa cùn. Bị nuôi trong hoàn cảnh giả tạo, hơn nữa luôn luôn bị rút mật một cách tàn bạo, không biết bao nhiêu chú gấu lực lưỡng biến thành một giống lờ đờ chậm chạp, kéo lê cuộc đời sống dở chết dở. Còn sống đó mà chúng không còn là mình, đến nỗi khi có người đến giải thoát thì không thể trở về rừng tìm lại cuộc sống bình thường được nữa.

Giở trang tin các mạng dễ dàng tìm thấy tin những con hổ ở Hà Nội bị bức tử.

Một người nước ngoài nhiều lần đi dọc từ Nam ra Bắc bảo rằng các bạn có thấy không, nhiều ngọn núi đá của các bạn ven đường một mạn từ Ninh Bình đến Hà Nam đang vẹt đi mòn đi, một số đang biến mất.

Rồi đến cả sông nữa. Chẳng phải là nhiều con sông của chúng ta đang bị xúc phạm, kể từ làm bẩn đến gây ô nhiễm, và trước khi được tuyên bố như Thị Vải (tên một bài báo trên SGTT 5-12-2009 Thị Vải là dòng sông đã chết) thì chúng đang trở nên thân tàn ma dại?!

Vâng, trước khi được chính thức khai tử, tôi đoán hẳn Thị Vải đã trải qua tình trạng sống lê lết trong bệnh tật. Sông bốc mùi dơ. Sắc nước ngả màu. Tôm cá trong lòng nổi lềnh bềnh vì hóa chất độc hại. Tức là một tình trạng sống dở chết dở của loài gấu mà trên đây tôi vừa nói. Và đến ngày hôm nay con sông chết vẫn nằm đó. Liệu đến bao giờ người ta mới quên nổi? Chắc không bao giờ!

Rồi với các thế hệ sau, thời của chúng ta sẽ được ghi nhận như là thời của những con bạc triệu đô, vụ PMU18… Và thời có những con sông chết như sông Thị Vải!

Hiếm khi thấy báo chí ta đưa tin về cuộc sống của một ngọn núi, một con sông. Bởi vậy cái tin Thị Vải đã chết dẫu sao cũng là một đặc ân. Chỉ lạ một nỗi là cái tin đau đớn đó không gây nên chút dư ba nào cả. Người ta chỉ nhắc đến nó khi đặt vấn đề bồi thường. Ngoài ra, chả thấy ai viết về chính cái chết của sông lấy ít dòng cảm động.

Tôi nói điều này từ góc độ một người làm công tác văn học.

Trong văn chương ta, sông là sức sống, sông là vẻ đẹp. “Đẹp đẽ thay tiếng hát của dòng sông”. Mở đầu tùy bút Sông Đà, Nguyễn Tuân từng đưa lên làm đề từ câu thơ đó của W.Whitman. “Đầu xuân gió mát tựa hè – Nở bung hoa gạo bốn bề trăng xuân – Sông là người đẹp khỏa thân – Non xanh mơn mởn bước gần bước xa…”. Huy Cận đã viết như thế trong một bài thơ làm hồi miền Bắc một thời thịnh trị trước chiến tranh.

Lúc này đây, những người còn nhớ đến Thị Vải và những con sông đang chết đang cần đến những lời thiết tha tương tự của các thi sĩ. Liệu có ai đáp lại không?

Theo Blog Vương Trí Nhàn

Chùm ảnh: Ông Táo về trời, hồ Hà Nội lại ngập rác

Hôm nay 23 tháng Chạp, là ngày tiễn ông Công, ông Táo về Trời. Ngoài những con cá chép có ý nghĩa làm phương tiện đi lại cho ông Công, ông Táo được thả xuống sông, hồ Hà Nội thì những nơi này lại phải gánh thêm rất nhiều rác rưởi.

Túi nilon, tro vàng mã, chân nhang… cùng theo xuống hồ. Ngay cả cá chép vừa được người dân thả xuống nước cũng không thể sống sót vì nước ô nhiễm, trắng bụng nổi lềnh phềnh trên mặt hồ.

Dưới đây là một số hình ảnh ghi lại tại một số hồ của Hà Nội:

a
Cá vừa thả xuống đã… phơi bụng
a
Chân nhang cũng ra hồ.
a
Hồ Giảng Võ cũng chung số phận.
a
Hồ Thiền Quang…
a
Hồ Hoàng Cầu…
a
… đến hồ Thủ Lệ đều  “bội thực” rác.
a
Rác dạt vào bờ Hồ Tây.
a
Những con cá chép này không bơi đi được vì bị mắc phải tro bát hương.
a
Tại Cầu Diễn
a
Ngao ngán ý thức của người dân.

Theo Bee.net

Cái giá phải trả cho hy sinh môi trường

Sau một thời kỳ phát triển, doanh nghiệp Việt Nam đã tiến những bước dài trong phát triển nội lực, họ đã đủ sức để đi qua giai đoạn khủng hoảng kinh tế và sẵn sàng nắm bắt những cơ hội mới trong năm 2010 khi thị trường hồi phục. Tuy nhiên, sự phát triển về quy mô và sự thâm dụng tài nguyên đã để lại gánh nặng môi trường, mà không dễ dàng giải quyết một sớm một chiều. Chạy theo tăng trưởng, bất chấp các thủ tục bảo vệ môi trường, xả nước bẩn ra sông rạch… đang là nguyên nhân chính bức tử các dòng sông, gây ô nhiễm trầm trọng môi trường sống hiện nay.

Đừng biến Việt Nam thành bãi rác công nghiệp

Núi nix phế thải của Hyundai – Vinashin ở thôn Mỹ Á, xã Ninh Thuỷ (tháng 8.2005). Ảnh: Lan Trang

Ông Lê Như Ái, giám đốc công ty nước uống tinh khiết Sapuwa, bức xúc: “Nhà nước cần mạnh tay hơn nữa về bảo vệ môi trường, không thể phát triển kinh tế bằng mọi giá được. Đừng quá hào hứng với những con số đầu tư, chạy theo chỉ số GDP, chạy theo thành tích, biến Việt Nam thành “bãi rác công nghiệp” của các nước tiên tiến”.

Theo ông Ái, công nghệ sản xuất lạc hậu ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Ai cũng biết thế, nhưng do luật còn có kẽ hở, nên không ít nhà đầu tư nước ngoài đã lợi dụng để đổ vào Việt Nam hàng loạt những dây chuyền công nghệ đã lỗi thời, với thiên hình vạn trạng những “chiêu” lừa, như dán lại nhãn mác để “qua mặt” quy định. Đó là chưa kể một số nhà đầu tư trong nước còn tiếp tay cho nhà đầu tư nước ngoài trong việc phá hoại môi trường. “Rất nhiều doanh nghiệp vi phạm luật bảo vệ môi trường, chỉ có bị lộ hay chưa bị lộ mà thôi”, ông Ái kết luận.

Giám đốc công ty Le & Associates và Motibee bà Phan Thị Mỹ Lệ cho rằng doanh nghiệp nước ngoài dù ý thức rất rõ về luật, nhưng nếu ta chủ quan, họ vẫn làm bậy như thường. Với cộng đồng doanh nghiệp trong nước, ý thức bảo vệ môi trường thường mới chỉ là đối phó. Đối phó để xuất khẩu được hàng, đối phó để qua mặt thanh tra…

“Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững phải liên kết chặt chẽ với nhau. Trong khi đó, hiện tại ý thức bảo vệ môi trường của doanh nhân Việt Nam còn thấp, đa số chạy theo lợi nhuận”, bà Lệ nói. Vẫn theo bà Lệ, sự kiện Vedan là một ví dụ cho thấy pháp luật còn quá lỏng lẻo. Hành vi gây ô nhiễm môi trường của Việt Thắng cũng phải xử lý thật nghiêm mới có tác dụng răn đe.

Ông Đoàn Đình Quốc, tổng giám đốc DQ corp, ưu tư: “Thực sự chúng ta đã và đang đánh đổi. Nhiều thành tựu của các công ty thu được từ sự hy sinh môi trường thiên nhiên và cuộc sống của người dân. Chân thành mà nói, chính cả bản thân tôi, đôi lúc vẫn chưa thực sự đặt việc bảo vệ môi trường đúng với yêu cầu xứng đáng của nó trong chiến lược phát triển kinh doanh nói chung”.

Xử phạt quá nhẹ, doanh nghiệp coi thường

Số lượng doanh nghiệp không chấp hành quy định bảo vệ môi trường đang tăng lên đến mức lo ngại. Trong khi đó, các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm lại gặp nhiều khó khăn.
Ông Phạm Xuân Trường, giám đốc Creations tâm sự: “Cha tôi qua đời vì bệnh ung thư, nên tôi thấm thía hơn ai hết nỗi đau khi nhìn các dòng sông đang chết. Thế nhưng vẫn có ít doanh nghiệp thực sự đầu tư nghiêm túc cho xử lý nước thải, đa số là lách luật để giảm chi phí. Nếu pháp luật có hình thức chế tài mạnh hơn, công minh hơn, dẫn đến phá sản doanh nghiệp, mới có thể ngăn ngừa được tình trạng gây ô nhiễm”. Ngoài ra, ông Trường cho rằng, cần có cơ chế để chống tham nhũng, có thưởng phạt xứng đáng cho người phát hiện và bảo vệ họ, vì bộ máy công quyền không thể kiểm soát hết được.

“Hầu hết mức xử phạt đều chưa hợp lý, tạo nên nhiều tiền lệ xấu, khiến doanh nghiệp coi thường, vi phạm lặp lại trở thành phổ biến”, ông Đoàn Đình Quốc phân tích. Ở nhiều quốc gia, đôi khi chỉ vì một vi phạm nhỏ, doanh nghiệp phải trả giá rất lớn, nhất là niềm tin của người tiêu dùng. Còn ở ta, rất nhiều doanh nghiệp gây hậu quả rất lớn với môi trường nhưng chỉ bị xử phạt kiểu hình thức, rồi đâu lại vào đấy.

Cái giá phải trả

Do đầu tư ban đầu chưa hợp quy chuẩn, nên khi vi phạm, nhiều doanh nghiệp lúng túng trong việc thay đổi kỹ thuật. Ông Trần Hữu Chinh, tổng giám đốc công ty Fideco, nói: “Để luật được thực thi, Nhà nước cần phải kiểm soát gắt gao những nhà đầu tư khu công nghiệp trong phương án báo cáo về phát triển và tác động môi trường trước khi phê chuẩn”.

Tại Fideco, theo ông Chinh, đã từng phải sửa lại hoàn toàn hệ thống xử lý nước thải của nhà máy đông lạnh Hải Việt ở Vũng Tàu khi bị cảnh báo. Cụ thể là ngưng mấy tháng sản xuất để xây thêm một bể chứa tập trung, xử lý hết chất độc hại trước khi xả ra ngoài. Đến nay, đầu ra của nước thải từ Hải Việt đã đạt chuẩn loại A.

“Các sở, ban ngành địa phương phải hết sức gương mẫu trong việc giám sát, kiểm tra, có biện pháp mạnh mẽ, rút giấy phép kinh doanh, chứ không để tình trạng vi phạm kéo dài”, ông Chinh đề nghị.

Là người gắn bó với ngành công nghiệp nặng, từng ngày nhìn thấy dòng sông Thị Vải đang hồi sinh khi Vedan ngưng xả chất độc hại, ông Đỗ Duy Thái, tổng giám đốc công ty Thép Việt đặt vấn đề: “Tại sao suốt mười năm qua Vedan qua mặt được pháp luật?”. Theo ông Thái, vấn đề lớn nhất cần thay đổi không phải tìm ra doanh nghiệp nào vi phạm, mà phải tìm ra ai đã đứng đằng sau, bảo kê cho việc đó. Tại Thép Việt, chúng tôi đã chọn công nghệ bảo vệ môi trường của châu Âu, nên nước được hoàn nguyên. “Ý thức về môi trường là nền tảng đúng để doanh nghiệp phát triển. Bản thân tôi đã nói với cả nhà là đừng bao giờ dùng bột ngọt Vedan, đó là cái giá lớn nhất mà doanh nghiệp phải trả”.

Để tránh tình trạng rất nhiều doanh nghiệp vi phạm luật, ông Lê Như Ái đề xuất: “Cần công khai những doanh nghiệp vi phạm luật qua các phương tiện truyền thông để người dân được biết và có thái độ cương quyết với sản phẩm đó”. Theo chuẩn mực quốc tế, để xuất khẩu sản phẩm gỗ sang nước ngoài, nhà sản xuất phải chứng minh nguồn nguyên liệu là gỗ trồng, chứ không phải gỗ khai thác tự nhiên. Thế nhưng có không ít doanh nghiệp vẫn “đánh lận con đen”.

“Tôi luôn ý thức biến 200 nhân viên của mình thành 200 gia đình tốt. 200 công dân tốt, có ý thức bảo vệ môi trường, vệ sinh cá nhân và phong cách sống đẹp. Khi mỗi công dân ý thức được bảo vệ môi trường, thì xã hội mới phát triển bền vững”, ông Ái nói.

  • Kim Yến – Ngân Hà (Theo Sài Gòn Tiếp Thị)

Ông Đặng Quốc Toản, tổng giám đốc công ty năng lượng dầu khí châu Á đưa ra giải pháp cụ thể để tiết kiệm năng lượng: “Chính Thủ tướng Nhật Koizumi đã kêu gọi và làm gương cho cả nước Nhật chỉ sử dụng điều hoà nhiệt độ khi trời quá nóng trên 250C. Thay bóng đèn sợi đốt bằng bóng đèn compact. Sử dụng hệ thống đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời, các thiết bị tiết kiệm năng lượng, điện gió ở quy mô lớn và quy mô nhỏ, cung cấp điện cục bộ cho từng khu vực dùng cho chiếu sáng, cho thông tin liên lạc, cho đèn đường, cho công viên, toà nhà, khách sạn, biệt thự… Đó là những hành động thiết thực cần làm ngay, là lương tâm và trách nhiệm của chúng ta đối với đất nước”.

Tại TP.HCM, trong số 935 doanh nghiệp đang hoạt động ở 12 khu công nghiệp và ba khu chế xuất, có đến 230 doanh nghiệp phát sinh nước thải với quy mô lớn nhưng chỉ có 81 doanh nghiệp có hệ thống xử lý nước thải. Theo thống kê của ban Quản lý các khu công nghiệp Việt Nam, tính đến hết năm 2008, cả nước có gần 200 khu công nghiệp (đang vận hành, xây dựng cơ bản lẫn đăng ký đầu tư).

Con số ấn tượng về sự gia tăng của các khu công nghiệp cũng đồng nghĩa với những lo ngại về ô nhiễm môi trường.


“Lá phổi xanh” thành “quả thận nhỏ”?

Quanh khu vực này, chỗ nào cũng thấy ngổn ngang gạch cát như một công trường xây dựng hoành tráng. “Lá phổi xanh” hồ Phùng Khoang sau này sẽ trở thành khu nhà ở và cao ốc chung cư, chỉ còn lại phần hồ cỏn con… hình quả thận.
Xây dựng vành đai xanh với điểm nhấn là các con sông, hệ thống hồ điều hòa là một trong những nội dung được nhấn mạnh trong bản báo cáo lần 3 về Quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.

Trong khi bản quy hoạch này đang tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện thì nhiều hồ tại Hà Nội vẫn đang bị xâm lấn, lấn chiếm trầm trọng, thậm chí người ta còn cho lấp hồ để làm dự án nhà ở…

“Lá phổi xanh” thành “quả thận nhỏ”?
Cùng với các hồ trong khu vực, hồ Phùng Khoang (còn gọi là hồ Trung Văn) đang trong cảnh bi thảm vì phần lớn diện tích hồ đang bị dự án khu đô thị Phùng Khoang “thôn tính”.

Cấp tập san lấp hồ Phùng Khoang để làm dự án nhà ở.

Theo số liệu của UBND xã Trung Văn (huyện Từ Liêm) diện tích hồ Phùng Khoang khi chưa bị thu về dự án là khoảng 16 ha mặt nước. Trước đây, toàn bộ diện tích này được giao cho hợp tác xã Thống Nhất thuộc thôn Phùng Khoang quản lý, làm hồ thả cá, hàng năm thu lợi một phần đóng góp vào hoạt động chung của thôn, một phần chia đều cho bà con xã viên thôn Phùng Khoang.

Đến đầu năm 2007, số phận của hồ Phùng Khoang “đã được định đoạt” bởi quyết định số 18/2007/QĐ – UBND của UBND thành phố HN về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết khu đô thị mới Phùng Khoang tỷ lệ 1/500.

Theo đó, phần lớn diện tích hồ sẽ bị lấp để xây dựng khu đô thị. Đến ngày 18/3/2009, UBND thành phố HN đã chính thức ra quyết định thu hồi gần 28 ha đất tại khu vực này (trong đó có toàn bộ diện tích hồ Phùng Khoang) để giao cho liên danh Tổng công ty đầu tư phát triển nhà HN và Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng đô thị (thuộc tập đoàn Nam Cường) thực hiện Dự án xây dựng khu đô thị mới Phùng Khoang…

Hồ Phùng Khoang những ngày này đang là một đại công trường san lấp quy mô lớn. Xưa kia, cả một khu hồ mặt nước mênh mông xanh biếc, không khí trong lành nay đang bị những đống gạch, đất, cát đổ ngổn ngang lấn vào giữa lòng hồ, bụi cát công trường bay mù mịt.

Xót xa khi thấy cả một khu hồ rộng đang bị lấp dần để làm dự án nhà ở

“Còn đâu cái hồ rộng để cho người dân được hưởng không khí trong lành nữa. Mai đây mặt hồ sẽ biến thành nhà ở và những tòa cao ốc chung cư”, bà Bạch Thị Loan, một người dân Phùng Khoang tỏ vẻ tiếc nuối cho số phận hồ Phùng Khoang.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, khu vực hồ Phùng Khoang không chỉ bị riêng dự án khu đô thị Phùng Khoang và đường Lê Văn Lương kéo dài lấp gọn, mà còn có sự đóng góp của một loạt dự án nhà ở khác của một số cơ quan Trung ương…

“Lá phổi xanh” hồ Phùng Khoang sau này sẽ trở thành khu nhà ở và cao ốc chung cư, chỉ còn lại phần hồ cỏn con... hình quả thận.

Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Quang Phú, Giám đốc công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng đô thị, một đơn vị trong liên danh được giao đất thực hiện Dự án xây dựng khu đô thị Phùng Khoang cho biết, hồ Phùng Khoang không mất hẳn khi thực xây dựng khu đô thị tại đây, mà chỉ bị thu nhỏ lại.

“Một phần hồ bị lấp để làm đường Lê Văn Lương kéo dài, làm nhà ở, phần còn lại chúng tôi xây dựng hồ điều hòa rộng 6,3 ha theo đúng quy hoạch mà UBND thành phố HN duyệt”, ông Phú nói.

Mặt nước “lá phổ xanh” hồ Phùng Khoang bị gạch đất san lấp không thương tiếc để làm dự án

Cũng theo giám đốc Phú, xung quanh 6,3 ha hồ điều hòa được giữ lại sẽ có hệ thống đường dạo, cây xanh, công viên và một khách sạn nhỏ, với tổng diện tích (tính cả hồ điều hòa) là khoảng 13 ha.

Mặc dù, việc có dự án về làng khiến cho bộ mặt thôn xóm, xã thay đổi không ít trong tương lai, nhưng nhiều người dân Phùng Khoang (xã Trung Văn, Từ Liêm) vẫn tỏ ra tiếc nuối, xót xa khi chứng kiến cả một khu hồ rộng mênh mông hàng chục ha đang bị san lấp.

Nhà bủa vây hồ
Sau nhiều năm bị chia năm xẻ bảy, một phần bị xẻ để làm đường, một phần bị xẻ làm bãi rác, một phần bị lấn chiếm… từ một hồ nước đẹp rộng hàng chục ha, diện tích còn lại của hồ Mễ Trì (huyện Từ Liêm) chỉ còn ngót nghét khoảng 5 ha.

Hiện hồ được giao cho tư nhân kè bờ, đắp đường ngăn làm nơi thả cá, nhưng giống như những hồ nước khác tại Hà Nội, nó vẫn không thoát khỏi cảnh bị nhà cửa, lều lán “nhảy dù” bủa vây, lấn chiếm tứ phía.

Khu đất ven hồ Mễ Trì (mạn đường Hồ Mễ Trì) bị xẻ làm những lô đất nhỏ cho thuê làm kho chứa hàng, than, phế liệu…

Phía Đông Nam hồ, giáp với đường Hồ Mễ Trì, một khoảng đất rộng hàng nghìn m2 được ngăn thành từng ô cho tư nhân dựng nhà, lán làm kho chứa hàng và vật liệu. Theo tìm hiểu của VietNamNet, cách đây chưa tới chục năm (khoảng đầu những năm 2000), bãi đất này vẫn là mặt nước hồ rộng mênh mông.

Tuy nhiên, cho đến nay, phần hồ giáp với con đường Hồ Mễ Trì đã bị san thành bình địa, lều lán, kho bãi mọc lên với tốc độ chóng mặt. Theo nhẩm tính của chúng tôi, chỉ riêng đoạn bờ hồ phía Đông Nam có tới gần chục lều, lán xâm chiếm làm kho bãi chứa phế liệu, chứa than, dịch vụ kinh doanh cây cảnh…

Bờ Tây Nam của hồ Mễ Trì là con đường đất nối đường Hồ Mễ Trì với đường Láng – Hòa Lạc, cũng chịu chung số phận bị xâm lấn bởi dãy lều, lán kéo dài hàng trăm mét. Theo quan sát của chúng tôi, đặc điểm chung của những dãy lều này là đều quay lưng ra hồ và giáp với lòng hồ, diện tích mỗi nhà lều chừng 40-60 m2.

Nhà, lán lều đua nhau bủa vây hồ Mễ Trì.

Kết cấu của chúng khá sơ sài, nền láng xi măng, xung quanh vây gỗ, liếp, mái lợp tấm xi măng… Có lều xây kiên cố hơn bằng hình thức ngoài quây liếp, bên trong xây tường gạch. Một số lều người ta sử dụng để nuôi gia súc, gia cầm… còn lại là những hộ gia đình đến ở, sinh sống với giường chiếu, bếp núc đủ cả giống như bất kỳ khu nhà “ổ chuột” nào của Hà Nội.

Trong những ngày có mặt tại khu vực này (trung tuần tháng 12-2009), chúng tôi chứng kiến hoạt động xây dựng, lấn chiếm hồ diễn ra khá sôi nổi. Khắp các ngôi nhà lán, lều và kho bãi ven hồ chỗ nào cũng thấy ngổn ngang gạch cát như một công trường xây dựng hoành tráng. Người ta xây tường, quây lán với tốc độ chớp nhoáng, chỉ trong một hai ngày những bức tường mới đã được dựng lên..,

Lấn chiếm hồ bằng cách dựng những ngôi nhà tạm lên

Theo bà H. một người bán quán nước tại khu vực hồ cho biết, hầu hết những dãy lều, lán quanh hồ này đều là người trong làng và một số người nơi khác đến “nhảy dù”, chiếm đất để ở từ vài ba năm nay. Gia đình của bà H. cũng là một trong số đó. Sau khi dựng lều, lán một phần họ làm chuồng trại chăn nuôi, một phần cho người lao động từ địa phương khác đến thuê ở với giá 5-700 nghìn/ tháng…

Những lô đất nhỏ cho thuê làm kho chứa hàng, than, phế liệu vốn là đất hồ

Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, ông Trần Trọng Hanh, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội cho rằng, việc hy sinh các hồ nước để thực hiện dự án phải được nghiên cứu, xem xét một cách cẩn thận.

Vì theo ông Hanh, ngoài vấn đề giúp cho không khí đô thị trong lành, các hồ nước tại Hà Nội còn đóng góp một phần quan trọng trong việc điều hòa lũ lụt, tránh cho HN lâm vào cảnh ngập lụt lịch sử như hồi tháng 11/2008.

  • Phú Nguyễn/VNN

Kênh rạch Tp.HCM đang chết dần

Khi thành phố chưa kịp khắc phục xong ô nhiễm hệ thống kênh rạch nội thành thì kênh rạch khu vực ngoại thành đã bắt đầu gia tăng ô nhiễm cả mức độ lẫn quy mô. Có thể kể một loạt các con kênh giãy chết vì ô nhiễm như kênh Ba Bò (Thủ Đức), Thầy Cai – An Hạ (khu vực Lê Minh Xuân, Bình Chánh), Suối Cái – Xuân Trường (Thủ Đức, quận 9), Thầy Cai – An Hạ (khu vực Tân Phú Trung, Củ Chi),…

Kênh Thầy Cai khu vực giáp ranh Long An – Củ Chi nay đã trở thành dòng kênh hấp hối

Bà Võ Thị Thiên An sống trong căn nhà tạm chênh vênh bên cầu Thầy Cai thuộc xã Tân An Hội, huyện Củ Chi, TP.HCM, cho biết con kênh Thầy Cai đã thúi đen cách đây bốn năm. Từ nửa đêm trở về sáng thì thúi đến mức không thở được, phải bật quạt mới ngủ nổi. Bà An kể: “Hồi xưa tui giặt đồ, rửa chén, cọ nồi bình thường, bây giờ thì không dám đụng tới một chút”.

Thúi muốn bỏ ăn tết

Tại khu vực cầu An Hạ, nằm giữa ranh giới huyện Hóc Môn và Củ chi, và khu vực Cầu Bông, xã Tân Hiệp, Hóc Môn, nước kênh cũng đen và hôi không kém. Chị Mây bán nước bên tỉnh lộ 22 cho biết, các công ty tại khu vực này thường lén xả nước thải ra sông vào cuối tuần, đặc biệt cứ vào những ngày tết, nước thải ra y như nước hầm cầu, đen kịt dòng sông, thúi đến nỗi người dân không còn muốn ăn tết!

Tình hình ô nhiễm kênh Thầy Cai – An Hạ – một trong những kênh chính phục vụ hoạt động thuỷ lợi và tưới tiêu trong nông nghiệp của Hóc Môn và Củ Chi (chảy qua khu công nghiệp Tân Phú Trung) hiện đã ở mức độ báo động. Theo chi cục Bảo vệ môi trường TP.HCM, nguyên nhân chính là do hoạt động sản xuất công nghiệp của khoảng 45 đơn vị trong khu công nghiệp Tân Phú Trung và dọc kênh An Hạ, kênh Xáng, rạch Tra. Hầu hết các đơn vị này đều hoạt động với các ngành nghề gây ô nhiễm cao như sản xuất giấy, cán rửa cao su, sản xuất cồn, giặt tẩy… với lượng nước thải chưa xử lý hoặc xử lý chưa triệt để rồi thải trực tiếp vào kênh Thầy Cai – An Hạ và các nhánh kênh xung quanh. Các chỉ tiêu oxy hoà tan DO, nhu cầu oxy sinh hoá BOD, nhu cầu oxy hoá học COD, tổng chất rắn lơ lửng… tại đa số các điểm quan trắc khu vực này đều vượt chuẩn cho phép, trong đó ô nhiễm vi sinh gấp quy chuẩn loại B1 (mục đích tưới tiêu thuỷ lợi) từ 31 – 180 lần.

Nhiễm vi sinh gấp 12.400 lần

Theo kết quả quan trắc, giám sát cuối năm của chi cục Bảo vệ môi trường TP.HCM, hầu hết các chỉ tiêu năm nay đều tăng so với năm 2008 từ vài đến vài chục lần, trong đó, ô nhiễm kim loại nặng đã xuất hiện tại khu vực Suối Cái – Xuân Trường, Ba Bò. Tại kênh Thầy Cai – An Hạ, ô nhiễm nhiều nhất tại kênh 6, 8, trong đó ô nhiễm vi sinh tại kênh An Hạ gấp tới 12.400 lần với quy chuẩn Việt Nam loại B1; oxy hoà tan DO – một trong những thông tin đầu tiên, rất quan trọng để đánh giá môi trường nước có còn sự sống hay không – tại ngã ba sông Sài Gòn thuộc địa bàn xã Nhị Bình, Hóc Môn chỉ 0,00mg/l (chỉ mới so riêng với nguồn nước mặt loại B2 dùng cho giao thông thuỷ là phải đạt ít nhất ≥ 2mg/l)…

Theo ông Nguyễn Đinh Tuấn, hiệu trưởng trường cao đẳng Tài nguyên và môi trường TP.HCM, tốc độ đô thị và công nghiệp ở ngoại thành hiện nay rất nhanh với sự ra đời của hàng loạt khu công nghiệp nhưng cơ sở hạ tầng không đáp ứng được. Dân số tăng nhưng hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tập trung không có. Mãi cuối năm 2008 các khu công nghiệp mới xây dựng xong hệ thống xử lý nước thải (nhưng vận hành ở mức độ nào thì chưa kiểm soát được), riêng khu công nghiệp Tân Phú Trung đến nay vẫn chưa làm xong hệ thống xử lý nước thải… Nguy hiểm hơn, kênh rạch ô nhiễm đã kéo theo sông ngòi ô nhiễm. Điều này sẽ ảnh hưởng vô cùng đến sự phát triển của đô thị, vì đây là nguồn cung cấp nước chính cho thành phố.

  • Bài và ảnh: Lê Quỳnh