Thực phẩm độc: Sợ cứ việc sợ, ăn thì… vẫn ăn

Đã gần cuối hè nhưng nỗi lo của NTD về chất lượng thực phẩm vẫn chưa dịu bớt: nước cốt hóa chất thay cho sinh tố hoa quả; váng sữa mốc; sữa bột trẻ em lắng cặn… Các nhà sản xuất thì dửng dưng, mặc người tiêu dùng kinh hãi.

Kinh hoàng thực phẩm mùa hè

Những nỗi lo lắng về an toàn vệ sinh thực phẩm đầu mùa hè vẫn tiếp tục nóng bỏng khi phát hiện ra nước sinh tố trái cây bổ dưỡng tại các cửa hàng được pha chế từ… nước cốt hóa chất còn sữa bột trẻ em lắng cặn trắng, quấy kĩ đến đâu cũng không tan. Cho dù người tiêu dùng “cẩn trọng” chọn mua thực phẩm tại các siêu thị thì vẫn gặp phải váng sữa mốc, bởi vậy thật khó trách niềm tin của người tiêu dùng dần tan chảy trong cái nóng oi nực cuối hè. Niềm tin đó đôi khi cạn kiệt đến mức nhìn bánh ngọt có bề mặt phủ trắng, khách hàng kiên quyết nói “không” với sản phẩm vì nghi ngại… bánh mốc.

Vào quán gọi sinh tố trái cây, nhiều khách hàng được phục vụ nước cốt hóa chất thơm ngon. Ảnh: C.T

Chất lượng là thế nhưng các nhà sản xuất thì vẫn mặc nhiên cho mình quyền quảng cáo “một tấc lên đến… vũ trụ”, hãng sữa thì kiên quyết nói không với giảm giá trong khi những nhà sản xuất bó tay mặc bia “loạn giá”. Người tiêu dùng ấm ức: nhà sản xuất chỉ cần lợi nhuận, còn quyền lợi của khách hàng thì sao?

Chẳng riêng gì thực phẩm, những nỗi lo điện – nước muôn thuở mỗi mùa hè của người dân vẫn chưa giảm bớt. Mang tiếng là “thượng đế” nhưng với nhà cung cấp dịch vụ “một đường dây”, thượng đế cũng phải chấp nhận chịu thiệt, như chi lương cả tháng chỉ để mua… nước sạch. Trong khi đó, người dân cứ đến ngày nóng lại sẵn sàng “sống chung với nến”, có thắc mắc thì nhà điện xúi… hỏi phường.

Khổ với sản phẩm, mệt vì bảo hành

Tivi dùng 3 năm mất 30 triệu phí sửa.

Bên cạnh nỗi lo về các mối nguy cơ mất VSATTP mùa hè, người tiêu dùng vẫn tiếp tục với những nỗi khổ “muôn thuở” vì bảo hành bởi mỗi khi có sự cố, nhà sản xuất lại “lạnh lùng nắm lý đằng chuôi”, mặc khách hàng loay hoay với sự cố. Vậy mới có chuyện xe máy đang chạy thì bốc cháy, khách hàngạngamjnguif gánh chịu thiệt hại, TV dùng 3 năm, sửa 30 triệu”. Cuối cùng, muốn được bảo hành hàng hoá, khách hàng chỉ còn nước “gõ phèng la” hay tìm sự giúp đỡ từ báo chí.

Bảo hành khổ là vậy, người tiêu dùng Việt tiếp tục bị lừa bởi “bánh vẽ” khuyến mại, ngậm ngùi dùng những sản phẩm kiểu xe máy “hen suyễn” hoặc sau 4 tháng bị người bán bỏ rơi mới quyết “rũ áo” ra đi.

Ngay những dịch vụ văn hóa như thăm quan bảo tàng, người tiêu dùng cũng bắt đầu cảm thấy ái ngại vì chụp ảnh phải mất phí. Nỗi khổ tiêu dùng hiện hữu khắp nơi và giải pháp để người tiêu dùng Việt thoát khổ thì vẫn như “bóng cá, chim trời”.

Theo Vietnamnet

Những ngôi làng chết chóc

Chẳng cần nhìn đâu xa ngoài dòng sông chảy qua Shangba để nhận thức được nạn ô nhiễm kim loại nặng, được các chuyên gia cho rằng đây là nguyên nhân khiến làng quê tại khu vực phía Nam Trung Quốc này biến thành những làng ung thư.

aa

Nước sông ở làng Shangba, thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, đã bị chuyển thành màu vàng đục sau khi nó chảy qua hồ ở gần Dabaoshan, 27/8/2009.

aa

Hồ bị ô nhiễm gần Dabaoshan. Nước sông hồ ở đây có đủ sắc màu, từ trắng đục tới vàng cam. Dòng nước sền sệt khiến cho sông không bao giờ gợn sóng được trước những cơn gió hiu hiu. Tại Shangba, dòng sông mang đến cái chết chứ không phải là thực phẩm nuôi sống người dân.

aâ

Một giếng nước ở gần Dabaoshan, bắc Quảng Đông. “Tất cả cá đều chết, thậm chí là gà vịt uống nước từ sông cũng chết. Nếu bạn thò chân xuống nước, bạn sẽ bị tấy mẩn, ngứa ngáy”, một nông dân ở đây cho biết. “Chỉ riêng năm ngoái, 6 người trong làng đã chết vì ung thư, tất cả đều khoảng 30-40 tuổi”.

aa

Những cây cỏ sắp chết tại một hồ bị ô nhiễm gần Dabaoshan. Căn bệnh ung thư đã phủ bóng xuống các làng ở khu vực này. Đất đai cũng bị ô nhiễm bởi các kim loại nặng được dùng để làm pin, các bộ phận máy tính và các thiết bị điện tử khác.

aa

He Kangcai, 60 tuổi, người dân làng Shangba, đang bị ung thư dạ dày. Mỗi năm, theo một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới năm 2007, có 460.000 người chết sớm ở Trung Quốc, do sống trong môi trường nước, không khí bị ô nhiễm.

aâ

Người dân làng Shangba dùng nước giếng để uống. Nhưng các xét nghiệm của BioMed Central vào tháng 7 vừa qua cho thấy nước chứa lượng catmi quá mức cho phép. Catmi là kim loại nặng có thể gây ung thư và tổn thương tới gan.

aa

Bà lão Yun Yaoshun, 82 tuổi, đã phải chứng kiến con trai, 54 tuổi, và 2 cháu gái, 12 và 18 tuổi, chết vì ung thư

aa

Một con lạch với dòng nước nâu đỏ chảy từ một hồ ở gần Dabaoshan. “Trung Quốc có rất nhiều “làng ung thư” và số lượng các làng này đang tăng lên do ô nhiễm nước”, Edward Chan, một quan chức của tổ chức Hòa bình Xanh (Greenpeace) tại Trung Quốc cho hay. Không chỉ có nước, các kim loại nặng gây ung thư hiện còn đang xâm nhập vào thực phẩm.

aa

Không chỉ ở riêng các làng quanh Dabaoshan, nơi có một trong những mỏ sản xuất chì, zine, catmi và các kim loại nặng khác lớn nhất Trung Quốc, có một lượng lớn những người mắc bệnh ung thư khi tuổi đời còn trẻ.

aa

“Nếu xét nghiệm gạo, nó chắc chắn cũng sẽ bị nhiễm độc. Nhưng nếu không ăn, chúng tôi sẽ chết đói”, một nông dân cho biết. “Chúng tôi cũng mang bán loại gạo này ra thị trường nữa”.

aa

Một người dân ở làng Liangqiao lấy nước tù dòng suối không bị ô nhiễm ở gần Dabaoshan. Rất ít hộ gia đình ở các làng xuôi dòng nước từ mỏ Daboshan không bị ung thư “gõ cửa”. Hầu hết họ bị mắc ung thư dạ dày, gan, thận, ruột kết.

aa

Theo các chuyên gia, khắp Trung Quốc, có hàng trăm, thậm chí là hàng ngàn làng nhỏ khác đang phải gánh chịu hậu quả của thời kỳ bùng nổ kinh tế.

KHÔNG CÓ CHĂM SÓC Y TẾ

Chỉ còn một vài gia đình ở vùng hạ lưu tính từ mỏ Daboshan là chưa bị ung thư sờ đến.

Thường xảy ra nhất là ung thư dạ dày, gan, thận và ruột kết, chiếm tỉ lệ khoảng 85 phần trăm. Chưa có số liệu về tỉ lệ ung thư tại những làng này, song nhiều tổ chức nhân quyền cho rằng tỉ lệ đó cao hơn nhiều so với tỉ lệ trung bình toàn quốc.

Báo cáo ‘Môi trường và Sức khỏe của Người dân Trung Quốc’, do Tổ chức Y tế Thế giới và Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc công bố năm 2001, cho biết, “Tại Nam Trung Quốc, cộng đồng dân cư chủ yếu lấy nước uống từ sông hồ, tỉ lệ ung thư hệ tiêu hóa ở đó rất cao.”.

Toàn Trung Quốc, có hàng trăm, thậm chí hàng ngàn thôn làng nhỏ bé, vô danh đang phải gánh chịu khổ đau từ hậu quả bành trướng kinh tế nhanh chóng của quốc gia, đây là những làng mà nhiều chuyên gia cho rằng tỉ lệ và loại ung thư chỉ có thể do ô nhiễm mà ra.

Rất có thể đây là số phận của ngày càng nhiều người dân Trung Quốc, khi mà các khu mỏ và nhà máy khạc nhổ hàng chục triệu tấn chẩt thải mỗi năm vào hệ thống nước và không khí, nhằm đem lại thành quả tăng trưởng kinh tế cho Trung Quốc.

Theo truyền thông Trung Quốc chính thống, mặc dù không đưa ra số liệu chính xác, so với năm 2005, tử suất do ung thư năm 2006 đã tăng 19 phần trăm tại thành thị và 23 phần trăm ở nông thôn.

Gánh nặng y tế gây thiệt hại về kinh tế. Theo truyền thông Trung Quốc, chi phí chữa trị ung thư đã gần chạm mức 100 tỉ nhân dân tệ một năm (tức 14,6 tỉ USD), chiếm 20 phần trăm chi phí y tế toàn quốc.

CHẲNG ĐƯỢC ĐỀN BÙ

Tình trạng thiếu vắng hệ thống y tế quốc gia đã khiến hầu hết các nạn nhân phải tự trang trải chi phí y tế.

Theo một công trình xuất bản trong tạp chí Lancet tháng 10/2008, năm 2006, chi phí y tế chiếm đến 50 phần trăm thu nhập một hộ gia đình tại Trung Quốc do bảo hiểm y tế không thỏa đáng.

Trung Quốc không có hệ thống y tế quốc gia bao quát, hơn 80 phần trăm nông dân hoàn toàn không được bảo hiểm y tế, mặc dù Trung Quốc đã lên kế hoạch cải tổ toàn diện để đến năm 2011, hầu như mọi người dân đều có bảo hiểm y tế cơ bản.

Trong khi đó, cư dân làng ung thư đang phải chiến đấu với gánh nặng y tế, thường rơi vào cảnh nợ nần vì chi phí thuốc men và khám chữa bệnh hết sức bất thường.

“Một quan chức đã đến thăm và đền bù cho tôi được 20 nhân dân tệ (tức 2,93 USD),” Liang Xiti cho biết chồng chị chết vì ung thư dạ dày ở tuổi 46. Riêng tiền thuốc men cho anh đã lấy đi của gia đình 800 nhân dân tệ hàng tháng, chị nói.

Zhang Jingjing, một luật sư đang giúp đỡ dân làng cho hay, công ty mỏ địa phương vừa hứa sẽ cấp vài ngàn nhân dân tệ cho tất cả các dân làng mỗi năm.

Tuy nguồn tài trợ này chỉ vừa đủ trang trải chi phí y tế, Zhang phát biểu rằng đây là một bước đáng khích lệ.

“Điều ngày đồng nghĩa với việc công ty mỏ đã thừa nhận hành vi gây ô nhiễm môi trường. Nếu chẳng làm sai, họ đã không phải xì tiền ra.”

Theo Dân Trí

Bauxitevietnam

Xem thêm: Làng ung thư Việt Nam

Tâm sự của một cô gái Nhật về hàng quán VN

Tôi là người Nhật, sang VN được bốn năm và rất thích các món ăn của VN như bún bò, gỏi, lẩu, hủ tiếu… Tuy nhiên, khi tận mắt chứng kiến nơi nấu nướng và cách chế biến thức ăn tôi không yên tâm chút nào.

Ăn uống và xả rác ngay bên cạnh

Ăn uống và xả rác ngay bên cạnh

Tôi thường đi ăn ở nhiều khu vực khác nhau thuộc các quận 1, Tân Bình (TP.HCM). Phải thừa nhận là thành phố của các bạn có rất nhiều quán hủ tiếu ngon ở ven đường. Tuy nhiên, sau nhiều lần vào các quán này ăn và quan sát, tôi thấy người bán quán rửa rất nhiều tô, muỗng, đũa trong một xô nước đục ngầu mà lẽ ra họ phải thay nước từ lâu. Ngoài ra, trong lúc ăn tôi còn thấy người bán hàng thường dùng tay trần bốc thức ăn, sau đó lại cầm tiền thối lại cho khách, thậm chí có lúc tôi còn thấy họ nhặt lại thức ăn đã lỡ rơi xuống đất để bán cho khách!

Khi đi ăn lẩu, tôi thấy thực khách vô tư dùng tay trực tiếp bỏ rau và các món khác vào nồi lẩu (ở Nhật hoàn toàn không có chuyện này). Không ít lần tôi còn phát hiện trong mớ rau có lẫn những tạp chất khác, thậm chí có lúc còn thấy những chú sâu ngọ nguậy trong ấy. Như vậy chứng tỏ rau chưa được rửa sạch trước khi đem ra phục vụ thực khách. Mỗi lần chứng kiến những điều kể trên tôi lại “chia tay” với một quán ăn, không hẹn ngày quay lại!

Không dám ăn ở hàng quán, tôi thường đi chợ mua thực phẩm về nấu ăn ở nhà. Thế nhưng khi vào chợ tôi thấy nhiều loại thực phẩm tươi sống như cá, thịt, hải sản thường bày bán trên vật dụng đặt rất thấp, gần như sát mặt đất. Nhiều khu vực bán thực phẩm lầy lội, đọng nước, nhìn không an toàn chút nào. Dù rất thích ăn đồ tươi sống theo kiểu truyền thống Nhật, nhưng tôi không dám mua những thứ này để chế biến món ăn vì sợ đau bụng. Ở siêu thị hình như vấn đề hạn sử dụng trên thực phẩm vẫn chưa được quản lý chặt chẽ lắm, vì có lần tôi phát hiện thực phẩm quá hạn sử dụng và thực phẩm mới được bán trộn lẫn với nhau.

Ở Nhật vấn đề vệ sinh, an toàn thực phẩm được các nhà hàng, quán ăn đặt lên hàng đầu. Bát đĩa sau khi sử dụng xong được rửa và khử trùng rất sạch. Tôi nghĩ nếu người bán thực phẩm chế biến và hàng ăn ở VN đặt mình vào vị trí của khách hàng mà suy nghĩ một chút thì họ sẽ dần dần cải thiện được vấn đề về vệ sinh, an toàn thực phẩm.

(Mỹ Loan ghi)

Theo TTO

HNX: Các bạn có sẵn lòng tẩy chay các hàng quán trông mất vệ sinh, dù thức ăn của họ ngon không?

Nỗi lo của loài chuột không phải là mối bận tâm của loài bò…


Một con chuột nhìn qua khe vách và trông thấy bác nông dân cùng với bà vợ đang mở một cái lồng.

“Có lẽ có thức ăn gì đó trong lồng?”, con chuột tự hỏi.

Nhưng liền sau đó, con chuột hốt hoảng khi nó phát hiện cái lồng đó chính là một cái bẫy chuột.

Chuột ta bèn chạy ra ngoài vườn và la toáng lên:

“Có một cái bẫy chuột trong nhà! Có một cái bẫy chuột trong nhà!”

Chị Gà mái đang bới đất gần đó, cục ta cục tác, nghe vậy ngẩn đầu lên nói rằng:

“Này anh Chuột. Đó quả thật là mối lo ngại và nguy hiểm ghê gớm đối với anh. Nhưng nó chẳng có phiền hà và liên quan gì tới tôi. Tôi không thể nào bị vướng vào một cái bẫy chuột”.

Chuột bèn quay sang nói với anh Heo với một giọng lo âu:

“Anh Heo ơi! Có một cái bẫy chuột trong nhà!”

Anh Heo ục ục tỏ ra thông cảm, trả lời:

“Tôi rất lấy làm tiếc và thông cảm cho cậu! Tôi cũng chẳng làm gì được. Nhưng tôi sẽ cầu nguyện cho cậu đừng bị vướng bẫy.”

Chuột hớt hải chạy tới bác Bò đang đứng đủng đỉnh nhai cỏ. Nó kêu lên:

“Bác Bò! Bác Bò! Có một cái bẫy chuột trong nhà!”

Bác bò vừa nhai cỏ vừa từ tốn trấn an:

“Bác rất hiểu sự lo âu của em, nhưng bác cũng chẳng giúp em được gì!”

Chuột chán nản lẳng lặng đi vào nhà. Lòng buồn thiu, một mình phải đối phó với cái bẫy chuột tàn nhẫn của bác nông dân.

Thế rồi vào đêm kia. Có một tiếng động vang lên trong ngôi nhà của bác nông dân. Dường như đó là tiếng bẫy xập. Vợ của bác nông dân vội chạy tới để xem cái bẫy có bắt được con chuột nào không? Trong đêm tối, loạng choạng thế nào, bà vợ bác nông dân đã bị một con rắn độc cắn vào chân khi bà ta mon men tới gần cái bẫy. Thì ra, cái bẫy chuột đã xập vào đuôi một con rắn.

Bác nông dân vội vàng chở vợ vào bệnh viện ở trên huyện. Khi trở về nhà, bà vợ bác bị lên cơn sốt. Bác nông dân nhớ là ăn cháo có thể làm giảm cơn sốt, vì thế bác đã chạy ra vườn bắt chị Gà mái cắt tiết và mần thịt để nấu cháo nấu cho vợ ăn.

Thế nhưng bệnh tình của vợ bác vẫn không thấy thuyên giảm chút nào. Bạn bè và hàng xóm nghe tin nên đã đến thăm hỏi. Để thết đãi họ, bác nông dân đã chọc tiết anh Heo.

Sau nhiều ngày chống chọi với cơn bệnh, vợ bác qua đời. Vì họ hàng thân thuộc đến đưa đám rất đông, bác nông dân phải mổ thịt bác Bò để có đủ thức ăn đãi khách.

(Một bạn đọc gửi cho HNX)

Uống ‘nước cốt’ hoá chất tưởng sinh tố trái cây

– 20.000-50.000 đồng 1 chai nước cốt “màu nào cũng có, mùi gì cũng sẵn”; các chủ quán giải khát chế biến được cả ngàn ly sinh tố trái cây, nước hoa quả…

Chế sinh tố trái cây từ…”nước cốt”

“Nếu ông nghĩ rằng các quán cà phê họ bán cho ông nước hoa quả nguyên chất “100%” hay cốc sinh tố “xịn” thì nhầm to rồi, không có đâu!” – anh bạn “cựu” chủ quán cà phê ở Hồ Đắc Di thẳng thừng kết luận khi phóng viên VietNamNet thắc mắc: “Cam gần 50.000 đồng/kg. Một kg pha được cùng lắm là 3 cốc nước cam nguyên chất, vậy mà ở quán họ chỉ tính có 20.000 đồng/cốc thì không hiểu lãi ở đâu ra”.

Hàng ngày có rất nhiều chủ quán cà phê ở Hà Nội tìm tới phố Hàng Buồm để mua “nước cốt” hoa quả (Ảnh G.Linh)

Thấy tôi vẫn tỏ vẻ “i – tờ”, anh bạn chẳng nói chẳng rằng dắt ngay tôi vào quán cà phê T. ở phố Trấn Vũ. Vừa ngồi xuống, anh bạn dõng dạc gọi: “Cho bọn anh 2 cốc cam vắt không đường, không đá nhé!”. Nước bưng ra, anh bạn bảo tôi uống thử một ngụm rồi hỏi luôn “Có thấy ngòn ngọt, hơi đắng lưỡi không?”, tôi đáp “Có”. Anh bạn lại hỏi tiếp: “Thế có thấy vị hăng hăng của tinh dầu vỏ cam và tép cam không?”, khi tôi đáp “Không” thì bạn reo lên đắc thắng: “Đấy, thấy chưa, nước cam này họ chế thêm “nước cốt” đấy!”.

Rồi bạn kể: “Hồi mới mở quán, tôi cũng đâu có biết cái trò pha thêm “nước cốt” này. Sau nhờ có một người họ hàng cũng mở quán cà phê thì mới biết đường mà lên chợ Đồng Xuân mua nước cốt về để chế thêm vào cốc nước thì mới có lãi đấy. Thậm chí nhiều quán bar cũng mua các loại nước cốt này về để pha chế cốc-tai. Nếu ông không tin, mai cứ lên chợ Đồng Xuân, phố Hàng Buồm mà hỏi, kiểu gì mấy bà bán hàng cũng sẽ hướng dẫn pha chế nhiệt tình”.

Màu gì cũng có – Mùi gì cũng sẵn…

Theo lời mách nước của bạn, chiều hôm sau, phóng viên VietNamNet đã có mặt tại phố Hàng Buồm để mục sở thị những chai nước cốt “kỳ diệu” – “đếm giọt ăn tiền”. Rảo một vòng từ đầu phố tới cuối phố, phóng viên VietNamNet chọn một cửa hàng có bà chủ chừng 50 tuổi đang gà gật trên chiếc ghế xếp để ghé vào hỏi mua “nước cốt” hoa quả.

Thấy có khách, bà chủ hàng vội nhỏm dậy và đon đả: “Anh cần mua gì?”, nghe tôi ngỏ ý muốn mua “Siro hoa quả về để pha nước giải khát, bà chủ với tay lấy ngay một chai nước trên giá xuống rồi hỏi tiếp: “Anh muốn mua loại nào? Cam – Ổi – Dâu tây?”.

Khách cần bất cứ loại “nước cốt” hoa quả nào các chủ hàng cũng đáp ứng được (Ảnh G.Linh)

Lật đi lật lại một hồi, nhận thấy chai nước mà bà chủ hàng đưa không giống như những gì anh bạn miêu tả nên tôi hỏi thẳng: “Em muốn mua loại đậm đặc hơn, đựng trong can nhựa ấy”. Biết gặp khách “sành”, bà chủ nhìn trước ngó sau rồi mới cúi xuống lôi một thùng các-tông đựng 4 – 5 chiếc can nhựa màu trắng ra và bảo: “Loại anh cần đây! 50.000 đồng/ 1 can. Đảm bảo về pha ra cả thùng nước luôn”.

Quay trở lại đầu phố Hàng Buồm, phóng viên VietNamNet lại ghé vào một cửa hàng có treo biển “Phụ gia – Hoá thực phẩm” để tìm mua thêm “nước cốt”. Chẳng một chút e dè, bà chủ cửa hàng này lấy từ góc nhà ra một chiếc can nhựa màu xanh, bên ngoài có dán mác bằng chữ nước ngoài và bảo: “20.000 đồng/ 1 lạng, thích mùi gì cũng sẵn, màu gì cũng có”.

Những chai nước “không quê quán”

Tiếp tục khảo sát tại các sạp bán đồ khô, gia vị thực phẩm quanh phố Cao Thắng và chợ Đồng Xuân, điều dễ nhận thấy là bên cạnh số ít những chai siro hoa quả đã pha chế (đóng trong chai thuỷ tinh) do những nhà sản xuất trong nước sản xuất thì đa phần các loại “nước cốt” hoa quả đang được bày bán đều chỉ có nhãn mác in bằng tiếng nước ngoài, phía dưới mác có dòng chữ tiếng Anh bé tí “Made in Malaysia” hoặc “Made in China”.

Khi được hỏi về nguồn gốc của những can “nước cốt” này thì 100% các chủ hàng đều trả lời rằng “Thứ này có người mang đến giao hàng tận nơi. Họ bảo nhập từ nước ngoài về nên chúng tôi cũng biết vậy thôi”.

Hầu hết các can “nước cốt” hoa quả đều không rõ nguồn gốc, xuất xứ nên chính các chủ hàng cũng chẳng dám pha để uống (Ảnh G.Linh)

Tại các cửa hàng, nhan nhản  dọc đường Hồng Bàng, trong chợ Kiên Biên, chợ Bà Chiểu…
TP.HCM, hương liệu đóng can hoặc bịch nilon cũng  được người bán giới thiệu đủ xuất xứ: Pháp, Malaysia, Indonesia, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam…, nhưng hầu hết không nhãn mác, không có bất cứ thông tin gì về nguồn gốc, các chất có trong sản phẩm. Thông tin duy nhất về sản phẩm là tên hương liệu được chủ cửa hàng ghi bằng… bút mực.

Các can, hộp hương liệu đang được các chợ bán với mức giá chỉ 50.000 – 100.000 đồng/hộp tùy từng loại. Những loại có “dán mác” một chút được chủ cửa hàng giới thiệu hàng ngoại có giá từ 180.000 đến 300.000 đồng/hộp.

Chị Phương Thảo, chủ một cửa hàng cho biết: “Ở đây không thiếu một loại hương liệu nào, có đầy đủ các chủng loại  như hương đào, dâu, nho, bưởi, hương tỏi, ớt, hành, thịt gà, trứng… Các sản phẩm có giá tiền khác nhau tùy chất lượng của nơi sản xuất”.

Khi được hỏi là những hương liệu pha chế đựng trong can không nhãn mác thì làm thế nào biết cách sử dụng, chị Hương, một chủ cửa hàng khẳng định: “Chỉ cần ước chừng là pha được. Có quá tay cho nhiều hương liệu một chút thì không chết người được mà lo!”.

Những can hương liệu không nhãn mác chất đống chờ bán trên hè đường (ảnh chụp tại chợ Kim Biên, TP.HCM)

Để tránh sự kiểm tra của các cơ quan chức năng, các chủ hàng thường chỉ bày biện trên giá hàng những chai nước “có gốc”, còn những can “nước cốt” nhập lậu loại “siêu đậm đặc” thì được giấu kín ở một nơi khác, thậm chí có chủ hàng còn bóc mác và nguỵ trang những can nước này thành đế kê giá hàng.

Chẳng ai thống kê được mỗi ngày một cửa hàng “Phụ gia – Hoá thực phẩm” bán được bao nhiêu chai, bao nhiêu lít nhưng theo lời bà Hoà – người bán hàng ở chợ Đồng Xuân (HN) thì: “Trời càng nóng tôi càng bán được nhiều, toàn nhà hàng đến mua về để pha nước giải khát thôi”. Thế nhưng chính bà Hoà cũng phải thừa nhận: “Chả bao giờ tôi pha thứ này ra để uống cả. Ngộ nhỡ…!”…

Gia Linh – Vũ Hội

Theo Vietnamnet

Thầy mà đã phán á là chỉ có đúng trở lên!

Bản đồ ô nhiễm ở Hà Nội

o nhiem1Để đánh giá ô nhiễm không khí, người ta thường căn cứ trên 5 tiêu chí bao gồm bụi có kích thước bé hơn 10 micron (PM10), khí SO2, NO2, CO và O3 (ô zôn). Ở thành phố, SO2 thường phát thải từ các lò đốt than và dầu chứa lưu huỳnh (như xe buýt), NO2 và CO phần lớn do động cơ ô tô xe máy phát ra, O3 do phản ứng hóa học trong khí quyển bởi khí thải từ xe cộ, PM10 liên quan đến rất nhiều nguồn phát thải giao thông, công nghiệp và sinh hoạt. Ở gần trục giao thông, PM10 chứa nhiều bụi đất do xe cộ tốc lên từ mặt đường.

Năm chất ô nhiễm nói trên đều tác hại đến sức khỏe. Minh chứng là hơn bốn nghìn người dân Luân Đôn tử vong bởi khói mù do nghịch nhiệt kéo dài nhiều ngày liền mùa đông năm 1954.

So với nhiều nơi khác trong vùng và trên thế giới, Hà Nội thuộc loại thành phố ô nhiễm không khí “có hạng”. Trầm trọng nhất là bụi PM10, hàm lượng thường vượt tiêu chuẩn cho phép, nhất là khu vực gần các trục giao thông và những nơi hay bị kẹt xe. Các chất khí ô nhiễm khác cũng khá trầm trọng, trên một vài địa bàn có thể vượt tiêu chuẩn.

Để có giải pháp cho tình trạng ô nhiễm không khí ở Hà Nội, cần biết khi nào, và trên địa bàn nào không khí bị ô nhiễm nặng nhất, và ô nhiễm bởi chất gì?

Về câu hỏi khi nào: Mùa đông ô nhiễm cao hơn mùa hè, nặng nhất vào tháng mười một, tháng mười hai . It nhất vào tháng bảy, tháng tám. Giữa trưa trời nắng và những hôm gió mạnh, mưa nhiều, chính là lúc không khí ít bị ô nhiễm nhất. Trong mùa khô, ô nhiễm nặng thường bắt đầu vài ngày sau khi gió mùa đông bắc tràn về và kéo dài trong nhiều ngày liền cho đến khi gió thịnh hành chuyển sang hướng đông nam trước khi xuất hiện đợt gió mùa mới. Trong thời gian này, hiện tượng nghịch nhiệt xảy ra sau khi mặt trời lặn khiến ô nhiễm tăng cao từ chập tối đến khuya.

Để trả lời câu hỏi thứ hai (trên địa bàn nào) cần phải lập bản đồ ô nhiễm không khí: Việc này đã được Chương trình Không khí Sạch Việt Nam – Thụy sĩ (SVCAP) phối hợp với Trung tâm Quan trắc và Phân tích Môi trường Sở TNMT Hà Nội (CENMA) tiến hành trong hai chiến dịch quan trắc SO2, NO2 và benzene tại hơn 100 vị trí khác nhau thuộc tám quận nội thành vào mùa đông (12/01 – 06/02) và mùa hè (17/08 – 11/9) năm 2007. Đây là công trình nghiên cứu khoa học có quy mô lớn, nhiều người tham gia, hàng trăm đầu dò theo nguyên tắc khí thụ động được chế tạo bởi PASSAM Thụy Sĩ và được chuyển trở lại nơi sản xuất sau khi phơi mẫu để phân tích.

Bản đồ ô nhiễm không khí được chính thức đưa vào “Báo Cáo Môi Trường Quốc Gia – Môi Trường Không Khí Đô Thị Việt Nam” do Bộ TNMT công bố tháng 6/2008. Ở đây xin đưa lại bản đồ thu được trong chiến dịch mùa hè. Vòng tròn nhỏ màu xanh lục đánh dấu vị trí các điểm quan trắc, hàm lượng khí ô nhiễm tính bằng micro gram trên mét khối không khí (μg/m-3). Bản đồ SO2 (do đốt than dầu chứa lưu huỳnh) bên trái, bản đồ NO2 (do xe cộ) bên phải. Để hình dung mức độ ô nhiễm, ta có thể căn cứ trên tiêu chuẩn tính trung bình cho cả năm là 40 μg/m-3 cho NO2 và 50 μg/m-3 cho SO2.

Hai giản đồ dưới đây so sánh mức độ ô nhiễm giữa tám quận nội thành về mùa đông (bên trái) và mùa hè (bên phải). Khí thải giao thông NO2 nhiều ở những quận có mật độ dân số cao, dân cư sống chen chúc, nhất là quận Hoàn Kiếm, sau đó đến Hai Bà và Ba Đình. Thanh Xuân và Hai Bà có nhiều cơ sở sản xuất nhỏ sử dụng than là hai quận dẫn đầu về ô nhiễm SO2 Tây Hồ là một trong hai quận ít ô nhiễm nhất. Quận Hoàng Mai cũng ít ô nhiễm vì dân cư còn thưa thớt, nhiều ao hồ và đất nông nghiệp.

o nhiem2

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ