Tết chặt cây và Tết sát sinh

Nguyễn Quang Thiều

Theo Tuanvietnam.net

Với thú chơi hoa đào rừng, đào núi ngày tết, chúng ta đang biến cái Tết trồng cây thành Tết chặt cây. Việc thi nhau chặt những cây đào rừng, đào núi một cách vô tội vạ vì lợi ích và thói hưởng thụ cá nhân đồng nghĩa với một lối sống thiếu giáo dục và phi văn hoá đang mỗi ngày một lan rộng.

Có một phong trào rất đáng trở thành một phong tục trong ngày Tết cổ truyền là phong trào trồng cây . Hồi tôi còn học tiểu học, cứ vào một ngày đầu năm là nhà trường tổ chức Tết trồng cây. Đó là một ngày hội thực sự. Mỗi học sinh trồng một cái cây. Rồi suốt những năm sau đó, mỗi học sinh luôn luôn chăm sóc cái cây của mình cho đến khi nó trở thành một cái cây vững trãi và toả bóng mát. Không chỉ nhà trường mà cả các thôn, xóm cũng tổ chức Tết trồng cây.

Nếu phong trào này được duy trì thì nó sẽ trở thành một phong tục đẹp. Nhưng ngược lại, nó không được tiếp tục. Và bây giờ, với thú chơi hoa đào rừng, đào núi ngày tết, chúng ta biến cái Tết trồng cây thành Tết chặt cây.

Với số lượng cành đào chuyển về riêng ở địa phận Hà Nội thì chắc chắn mỗi năm người ta ngốn hết một cánh rừng nhỏ.

Có thể nói, từ rằm tháng Chạp đến sát Tết, trên mọi nẻo đường từ các tỉnh phía Bắc về Hà Nội và các thành phố khác, chúng ta thấy một cuộc vận chuyển khổng lồ và có hệ thống những cành đào to, nhỏ với hầu hết các loại xe được huy động như xe tải, xe khách, xe du lịch, xe hơi 7 chỗ, 4 chỗ của các cơ quan Nhà nước.

Với số lượng cành đào chuyển về riêng ở địa phận Hà Nội thì chắc chắn mỗi năm người ta ngốn hết một cánh rừng nhỏ. Cứ liên tục như vậy trong nhiều năm, những cánh rừng đào sẽ không còn nữa. Trước hết, nó mất đi vẻ đẹp mà thiên nhiên đã ban tặng. Sau đó, nó làm cho con người có một thói quen xấu là tàn phá thiên nhiên vì lợi ích và những thú chơi của cá nhân mình.

Ngay ở giữa Hà Nội, những cây sưa với những mùa hoa tuyệt đẹp bị đốn hạ bằng mọi lý do của ngay cả những đơn vị quản lý cây xanh. Những hồ nước và những công viên tuyệt đẹp bị bức tử. Những di tích lịch sử và văn hoá bị các cá nhân và các tập đoàn phá vỡ cảnh quan hoặc  lấn chiếm bởi những công trình xây dựng của mình.

Việc thi nhau chặt những cây đào rừng, đào núi một cách vô tội vạ vì lợi ích và thói hưởng thụ cá nhân không ảnh hưởng gì đến an ninh quốc gia hay nền kinh tế nước nhà

Tôi cam đoan rằng: nếu chính quyền đồng ý thì sẽ có không ít tập đoàn hồ hởi và sẵn sàng phá chùa Trần Quốc hay Tháp Rùa ngay lập tức để xây khách sạn năm, bảy sao gì đấy. Nhận định này của tôi bắt nguồn từ những gì họ đã làm và những gì mà báo chí đã từng lên tiếng nhiều năm trở lại đây.

Việc thi nhau chặt những cây đào rừng, đào núi một cách vô tội vạ vì lợi ích và thói hưởng thụ cá nhân không ảnh hưởng gì đến an ninh quốc gia hay nền kinh tế nước nhà. Nhưng nó đồng nghĩa với một lối sống thiếu giáo dục và phi văn hoá đang mỗi ngày một lan rộng.

Bi hài thay, chúng ta có Tết chặt cây lại có Tết sát sinh. Nói về Tết sát sinh là tôi nói đến hành động phóng sinh trong ngày Tết ông Công, ông Táo. Tục phóng sinh (cá chép) là một tục đẹp và mang ý nghĩa nhân văn. Nhưng hãy nhìn cách phóng sinh của người dân mà xem. Ngay sau khi họ phóng sinh một con cá thì phóng sinh luôn rác thải xuống hồ, xuống sông. Ven bờ hồ và bờ sông là những túi nylon và đủ các loại rác thải khác nổi lềnh bềnh.

Số lượng những hồ nước và những dòng sông bị nhiễm độc mà chết ngày một tăng lên. Chiều 23 Tết vừa rồi, sau khi lễ ông Công, ông Táo xong, vợ tôi phải nhờ một đứa cháu mang con cá chép nhỏ đến tận một hồ nước còn khả dĩ sạch sẽ để phóng sinh cho dù nhà tôi chỉ cách sông Nhuệ mấy bước chân.

Cách đây hơn 10 năm, trong trường ca Nhân chứng của một cái chết, tôi đã nói đến cái chết của sông Nhuệ. Xác của dòng sông thối rữa và bốc mùi lên tận lưng trời. Bây giờ thì dòng sông ấy chết thật. Dòng nước trong xanh, thơ mộng với những ngọn gió sông trong lành thổi vào thành phố và các làng mạc ven sông của mấy chục năm trước giờ đây chỉ còn là một cái xác thối rữa.

Chúng ta mua những con cá để phóng sinh nhưng chúng ta lại phóng sinh chúng vào một môi trường chết do chính chúng ta gây ra một cách vô ý thức. Chính thế mà hành động phóng sinh của chúng ta trở nên bi hài và đầy thói đạo đức giả. Hành động phóng sinh thực sự có lương tâm chính là hành động bảo vệ môi trường. Cũng như hành động vì những người ngèo khổ một cách thực sự là chúng ta không tiêu xài hoang phí và không tham ô, tham nhũng tiền đóng thuế của người dân. Còn hành động mang cho người ngèo mấy gói mỳ ăn liền phần lớn vẫn là một trò diễn mà thôi.

Tết chỉ còn mấy ngày nữa, lẽ ra chẳng nên nói những chuyện buồn nản như thế này làm gì. Nhưng biết làm sao được. Cầu chúc mọi người lúc nào đó có một cái Tết vẫn có hoa đào đẹp để ngắm và vẫn thấy lòng thanh thản vì đã phóng sinh.

Chùm ảnh: Ông Táo về trời, hồ Hà Nội lại ngập rác

Hôm nay 23 tháng Chạp, là ngày tiễn ông Công, ông Táo về Trời. Ngoài những con cá chép có ý nghĩa làm phương tiện đi lại cho ông Công, ông Táo được thả xuống sông, hồ Hà Nội thì những nơi này lại phải gánh thêm rất nhiều rác rưởi.

Túi nilon, tro vàng mã, chân nhang… cùng theo xuống hồ. Ngay cả cá chép vừa được người dân thả xuống nước cũng không thể sống sót vì nước ô nhiễm, trắng bụng nổi lềnh phềnh trên mặt hồ.

Dưới đây là một số hình ảnh ghi lại tại một số hồ của Hà Nội:

a
Cá vừa thả xuống đã… phơi bụng
a
Chân nhang cũng ra hồ.
a
Hồ Giảng Võ cũng chung số phận.
a
Hồ Thiền Quang…
a
Hồ Hoàng Cầu…
a
… đến hồ Thủ Lệ đều  “bội thực” rác.
a
Rác dạt vào bờ Hồ Tây.
a
Những con cá chép này không bơi đi được vì bị mắc phải tro bát hương.
a
Tại Cầu Diễn
a
Ngao ngán ý thức của người dân.

Theo Bee.net

Làm sao thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình? – P/v Lê Đăng Doanh

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh



Ngân hàng Thế giới (WB) vừa chính thức công bố, VN trở thành nước có mức thu nhập trung bình. Tuy nhiên, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh lại có góc nhìn khác về kết quả này.


Thu nhập chủ yếu từ tài nguyên

Là chuyên gia kinh tế, ông đánh giá thế nào về kết quả mà WB vừa công bố?

Trước hết, có thể nói chỉ tiêu GDP bình quân đầu người, là một chỉ tiêu thô, tổng hợp và nó không nói gì được về sự bất bình đẳng về thu nhập trong xã hội. Có thể, một vài đại gia về bất động sản, ngân hàng, chứng khoán có thu nhập cả hàng trăm triệu USD/năm, trong khi đó những người nông dân nghèo, vẫn đang rất nghèo. Việc công bố về tỷ lệ hộ nghèo của VN (12,3%), nhưng ngay cả con số đó cũng chưa bao quát được hết, vì cái chuẩn hộ nghèo của chúng ta đã không kịp điều chỉnh theo trượt giá và chỉ tiêu lạm phát.

Có nghĩa là ông không đồng ý với WB?

Chưa hẳn thế. Theo tôi, việc VN từ một nước nghèo, có thu nhập thấp trở thành một nước có thu nhập trung bình đã là một kết quả rất đáng trân trọng thể hiện nỗ lực của VN trong vòng nhiều năm. Nhưng chúng ta cần phải nhìn lại và xem mức thu nhập đó có được dựa trên kết quả nào và trong tương lai, VN sẽ có thể vượt lên được cái “bẫy” có thu nhập trung bình hay không?

Cái “bẫy” ở đây là gì, thưa ông?

Người ta phân biệt cái “bẫy” thu nhập trung bình thành hai loại: Bẫy lương thấp, tức là những nước nghèo chỉ có làm gia công, lắp ráp, nên lương thấp. Còn công việc nghiên cứu khoa học, phát triển, triển khai, thiết kế thì không làm được. Việc phân phối, tiếp thị cũng không làm được. Để làm được các khâu đó đòi hỏi phải có trình độ cao.

Ngay thu nhập trung bình, người ta cũng chia ra làm 3 nhóm: Thu nhập trung bình thấp (1.000- 4.000 USD/người/năm). Trung bình trung bình (4.000- 8.000 USD/người/năm) và trung bình cao (tức 8.000-9.600- 9.800 USD/người/năm). Còn trên 10.000 USD/người/năm là nước có thu nhập cao và gia nhập nhóm OECD (các nước phát triển mới), mà gần đây nhất là Chile đã đạt được mức này.

Như ông vừa nói, cần phải xem mức thu nhập đạt được dựa trên kết quả nào, vậy VN đạt được thành tựu là nước có thu nhập trung bình dựa vào đâu?

Để đạt được thành tựu này, VN đã có một số thay đổi lớn: Chúng ta đã chuyển ra kinh tế thị trường, phát huy được tinh thần kinh doanh, sự năng động của những người dân và thu hút được đầu tư nước ngoài.

Tuy nhiên, điểm mấu chốt để đạt được sự tăng trưởng đó là chúng ta dựa vào khai thác tài nguyên và sử dụng lao động giá rẻ, tức làm gia công, lắp ráp. Thu nhập của VN hiện nay dựa vào tới hơn 70% từ tài nguyên, gồm có: Dầu thô, than đá, các khoáng sản, gỗ, gạo, thuỷ sản, cao su, cà phê. Thủy sản cũng chỉ mới là đông lạnh, chưa có chế biến. Điểm chúng ta phải tỉnh táo nhận ra, khi chúng ta đạt được mức thu nhập trung bình là trong bối cảnh, bất bình đẳng trong xã hội đã ở mức rất cao. Một số người buôn bất động sản, buôn bán chứng khoán rất giàu nhưng không tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội.

Như vậy, có thể nói thu nhập của chúng ta vẫn chủ yếu là “bán máu” (khai thác tài nguyên) và “ăn sổi” (bất động sản, chứng khoán)?

Chúng ta rất mừng khi một người nông dân áp dựng KHCN vào sản xuất các cây, con mới, tạo công ăn việc làm cho nhiều người. Nhưng chúng ta cũng hết sức lo ngại, khi có những kẻ khai thác, tàn phá tài nguyên như đạp đá, bốc cát bừa bãi. Tất cả những cái đó đều không nộp vào ngân sách và ít tạo ra công ăn việc làm. Chúng ta đạt được mức thu nhập đó, nhưng cái vốn quý lớn nhất của chúng ta, là con người, thì lại không đào tạo được họ để trở thành những người có trình độ cao.

Chúng ta vẫn chưa thể đào tạo được chuyên gia nào để hoạt động, làm việc ở nước ngoài bằng nền giáo dục của chúng ta. Hầu hết những người VN đang làm việc ở nước ngoài hiện nay đều được đào tạo ở nước ngoài. Rồi chúng ta cũng không có một chuyên gia tài chính nào được đào tạo ở trường VN mà đi “kiếm cơm” được ở nước ngoài.

Thu nhập của VN hiện nay dựa vào tới hơn 70% từ tài nguyên.
(Ảnh minh họa)

Cải cách toàn diện để vươn lên

Như ông nói ở trên, vấn đề thu nhập ở đây của chúng ta mới dựa vào “sức”, chứ chưa dựa vào “trí”. Để chuyển từ “sức” sang “trí”, chúng ta cần những thay đổi gì?

Chúng ta đạt được thành tựu này trong bối cảnh ô nhiễm môi trường đang diễn rất nghiêm trọng từ sông ngòi cho đến ao, hồ. Rồi nạn phá rừng ngày càng nghiêm trọng, phá rừng làm cho nước nguồn ngày càng cạn kiệt, lũ bão ngày càng gay gắt hơn, khô hạn nghiêm trọng hơn. Vì vậy, bên cạnh những thành tựu đáng trân trọng đó, chúng ta cũng phải thấy hết được những hạn chế, khuyết điểm, thiếu sót để khắc phục.

Ngay khi công bố kết quả này, WB cũng đã có rất nhiều lời khuyên đối với VN, nhất là về vấn đề cải cách để tiếp tục phát triển. Theo ông, VN cần phải cải cách những lĩnh vực nào?

Như tôi đã nói, chúng ta rất lo ngại cái “bẫy” thu nhập trung bình như các nước Đông Nam Á, từ Thái Lan đến Philippin, Malaysia, Indonesia…chỉ quanh quẩn ở mức thu nhập trung bình từ nhiều năm nay, tức chỉ dao động ở mức từ 1.500-5.000 USD/người/năm, không lên nổi. Chỉ có Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc vươn lên được.

Cũng xin lưu ý là, chúng ta đạt được thành tựu này trong bối cảnh nạn tham nhũng ngày càng trở nên trầm trọng. Bản thân chúng ta cũng lên án rất gay gắt tham nhũng, nào là “giặc nội xâm”, kẻ thù của đất nước nhưng trên thực tế việc hành động đạt được kết quả rất thấp.

Một khi muốn đạt được mức tăng trưởng mà giảm dần việc phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, chúng ta sẽ cần chuyển sang khai thác những nguồn lực nào?

Phải có sự cải cách rất rõ từ giáo dục, cho đến y tế, môi trường và phải có một quyết tâm chính trị như cách làm của Hàn Quốc, từ một nước rất nghèo phải đi XK lao động, XK tóc giả, nhưng chỉ trong một thời gian rất ngắn đã chuyển sang đóng tàu, XK ôtô, điện tử. Do đó, chúng ta cần chuyển từ việc tăng trưởng chiều rộng dựa vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ sang xây dựng các DN có thương hiệu, có năng lực cạnh tranh quốc tế, thế giới, phát triển KHCN, dựa vào đội ngũ lao động có trình độ, trí thức.

Phải giải quyết từng bước, có quyết tâm những sự bế tắc như tôi đã nói ở trên, trước hết là thay đổi bộ máy hành chính có năng lực hơn, tiếp tục chống tham nhũng, giải quyết ô nhiễm môi trường, thu nhập bất bình đẳng và các vấn đề xã hội.

Thực tế, thu nhập bình quân đầu người của chúng ta là như vậy, nhưng tiền lại chỉ tập trung vào một số ít người, còn đại đa số dân ta vẫn nghèo. Chúng ta có nên kiến nghị WB thay đổi công bố này?

Chúng ta không thể thay đổi được hoặc báo cáo với họ là chúng ta tái nghèo, mà phải vươn lên, phải tiến tới thành một nước phát triển, làm nghĩa vụ đi giúp đỡ các nước khác như cách làm ban đầu là chia sẻ và cử chuyên gia sang châu Phi hỗ trợ về SXNN. Có thể coi đây là bước ngoặt của sự thay đổi, chúng ta đang đứng giữa ngã 3 đường, nếu không vượt qua được, mình sẽ mãi mãi trở thành một nước “làng nhàng” quanh quẩn ở ngưỡng 1.000- 2.000 USD/người/năm, đấy là chưa kể đến các sự tác động mới như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường.

Bauxite Việt Nam

“Ông ấy mải chăm cây có biết đói đâu”

Đến thôn Đông Quan, xã Đồng Sơn, huyện Yên Dũng, Bắc Giang, nhìn hàng cây xanh mát rợp bóng hai bên đường đi bất cứ ai cũng đều gật đầu tấm tắc khen. Cứ ngỡ hàng cây thuộc quyền quản lý của một cơ quan nào đó và được trồng theo quy hoạch nhưng hỏi ra mới hay đó là tác phẩm của “ông cây xanh” – Khổng Đức Hộp, người 29 năm nay tình nguyện trồng cây cho làng.

Cây xanh – món quà cho quê hương

Tìm đến nhà ông Hộp trong một trưa mùa đông nắng nóng do cái đỏng đảnh của thời tiết biến đổi, chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng trước những hàng cây rợp bóng hai bên đường. Căn nhà đơn sơ được bao bọc xung quanh là những loại cây, hoa với nhiều hình dáng  và màu sắc khác nhau được sắp xếp hợp lý trong khoảnh sân trước nhà. Dáng người nhỏ thó, những nếp nhăn đã khắc sâu trên khuôn mặt nhưng nụ cười vẫn luôn hiển hiện nơi “ông cây xanh” ấy.

Công tác tại Ban Nông vận trung ương từ năm 1949, đến năm 1980 ông  Hộp nghỉ hưu về quê với gia đình. Nhìn cảnh quê hương thời kỳ đổi mới với những biến đổi của thôn xóm, cây xanh bị chặt để lấy gỗ, lấy chỗ cho những ngôi nhà, ông không khỏi xót xa. Rồi ông quyết định trồng cây xanh làm món quà dành tặng quê hương.

Hai hàng cây bên đường vào thôn Đông Quan do ông Hộp trồng.
Ông Hộp bên cây trà là do ông trồng cách đây  20 năm.

“Tiền bạc cũng không để lâu được, chỉ có cây xanh mới có thể che mát và giữ được không khí trong lành cho làng xóm, mới có thể để lại cho thế hệ sau”, ông Hộp chia sẻ.

Từ những ngày còn công tác ở Ban Nông vận trung ương, ông đã có niềm đam mê đặc biệt với cây xanh, luôn tìm tòi và trồng cây xanh cho cơ quan. Khi về nhà, ông  tiếp tục đi tìm kiếm và sưu tập các loại cây khác nhau, phù hợp với điều kiện quê hương. Trên mọi ngõ xóm của thôn Đông Quan, bất cứ chỗ nào có đất trống là ông Hộp lại mang cây giống đến trồng và chăm sóc.

Ban đầu, ông trồng thí điểm ba loại cây chủ yếu là cây đa, trà là và cây cọ, sau đó mới mở rộng ra trồng những loại cây khác như phượng, điệp, hòe…

Tính đến nay, ông Hộp đã trồng cho thôn Đông Quan hơn 1000 cây xanh. Nhìn những hàng cây tỏa bóng mát cho thôn xóm, ông Hộp coi đó là niềm vui, là món quà lớn nhất của mình dành tặng quê hương.

Tất cả vì… cây

Đi công tác xa nhà suốt mấy chục năm, thế mà khi về nghỉ hưu ông Hộp lại chỉ chú trọng vào trồng cây cho làng xóm. “Suốt ngày ông ấy chỉ nhăm nhăm đi trồng và chăm sóc cây cho cả làng, có mấy khi ở nhà đâu. Đến bữa còn phải đến tận chỗ ông ấy trồng cây để gọi về ăn vì ông ấy mải chăm cây có biết đói đâu”, bà Khổng Thị Nắm vợ ông Hộp kể.

Có lẽ ông Hộp đã coi cây xanh là bạn, hiểu được giá trị của cây xanh nên dù chịu bao bàn tán, chê bai của mọi người thì ông vẫn tận tụy trồng và chăm sóc cây. Ông yêu thương, chăm sóc cho cây còn hơn cho bản thân mình. Những cây mới trồng, ngày nào ông cũng xách nước tưới, rào xung quanh cây để trẻ trâu đỡ phá. Có những hôm xách nước tưới cho cây thì thấy cây đã bị bẻ gãy, ông xót lắm, đứng thẫn thờ nhìn cây. Sờ vào cành bị gãy và dòng nhựa cây còn chưa kịp khô mà ông thấy như chính mình đang bị thương.

Nhiều cây mới trồng, người trong làng thấy cây đẹp nhổ về, ông cũng không nản mà tiếp tục trồng cây mới thay vào chỗ cũ. Có rất nhiều cây mà ông Hộp trồng giờ đã có thể thu hoạch gỗ nhưng ông nhất định không bán. Ông bảo: “Cây nó cũng giống như linh hồn của mình vậy, đã trồng, chăm sóc và thấy nó lớn lên, có tình cảm với nó rồi thì có đói ăn tôi cũng không bao giờ chặt cây mang bán cả”.

Trước đây, mọi người thấy ông suốt ngày vác cuốc, xách nước đi trồng và chăm sóc cây thì ai cũng bảo ông là “hâm”, “rỗi hơi”, “lẩn thẩn”…, ngay đến vợ con còn trách ông là “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”. Thế nhưng ông vẫn không nản, vẫn ngày ngày trồng cây.

Đến nay, hầu hết những chỗ đất trống trong làng đều đã được ông trồng kín cây, mọi người giờ đây đã thấy được cái lợi từ việc làm “lẩn thẩn” của ông nên họ không còn chế giễu nữa mà trở nên kính trọng “ông cây xanh”. Vừa nhìn thấy ông Hộp, cô giáo Trịnh Thị Sáu (giáo viên trường tiểu học Đồng Sơn) đã nhanh nhảu chào, nhờ ông xem hộ cây phượng trước cửa lớp học mà cô chủ nhiệm mấy hôm nay tự nhiên héo hết lá.

Cô chia sẻ: “Cây cối trong trường này toàn là do ông Hộp trồng và chăm sóc hết đấy! Nhờ có ông mà cô và trò được sống trong môi trường nhiều cây xanh, bóng mát, trường được gọi là trường xanh, sạch, đẹp. Ông cũng là tấm gương sáng để các em học sinh học theo ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ cây xanh”.

Ông Hộp trồng lại cây mới trên chỗ đất cây cũ đã bị chặt trộm.

Các cháu học sinh khoe điểm với ông cây xanh.

Ông Hộp đã trở nên thân quen với mỗi học sinh trong trường nên mỗi lần thấy ông, chúng lại chạy đến và đập tay chào ông, khoe cho ông những con điểm mà chúng đạt được. Bé Khổng Đức Mạnh (lớp mẫu giáo lớn) khoe: “Ông cây xanh hay trồng nhiều cây cho chúng cháu lắm! Cháu cũng muốn lớn lên trồng được nhiều cây như ông”.

Đến bây giờ, trong làng đã hết đất để trồng cây nhưng ông Hộp vẫn có thói quen ươm cây giống. Ông bảo: “Mình cứ ươm để đó, ai cần đến xin thì mình cho họ mang về trồng, càng nhiều người trồng cây thì càng tốt”. Có lẽ đối với ông, cây xanh còn hơn cả một niềm đam mê rất lớn. Cây xanh là người bạn tinh thần thân thiết của ông.

  • Trần Tân-Bích Liên (Theo Tuanvietnam.net)

Người Việt đáng yêu, người Việt dễ ghét

Từ trước đến nay, một cách công khai, trên sách báo cũng như trên các diễn đàn, hình như ai cũng nói người Việt…đáng yêu.

Mà không phải chỉ có người Việt Nam mới nói thế. Nhiều người nước ngoài thường đi Việt Nam cũng không ngớt khen là người Việt Nam đáng yêu. Cách đây mấy năm, có một sinh viên người Na Uy sang Úc du học. Trên đường từ Na Uy sang Úc, anh ghé Việt Nam chơi hai tuần. Lý do ghé Việt Nam chỉ có tính chất thực dụng: Vật giá rẻ. Vậy thôi. Nhưng hai tuần ở Việt Nam đã làm thay đổi hẳn kế hoạch học tập của anh. Mê Việt Nam trong thời gian hai tuần ấy, sang Úc, anh quyết định chọn Tiếng Việt làm một trong hai môn học chính trong chương trình Cử nhân. Hỏi: Mê nhất ở Việt Nam là điều gì? Anh đáp: Con người. Và nói thêm: “Người Việt rất đáng yêu”.

Ảnh: chungta.com

Cách đây mấy ngày, tôi cũng lại gặp một sinh viên khác, cũng mê Việt Nam như thế. Sau khi học xong trung học, thay vì vào đại học ngay, cô quyết định nghỉ một năm để đi làm và đi du lịch. Sau khi qua nhiều nước, cô ghé Việt Nam. Cũng chỉ là một quyết định tình cờ. Thoạt đầu, định ở vài ba tuần. Nhưng rồi cô lại đâm mê Việt Nam. Bèn quyết định ở lại thêm vài tháng. Trong vài tháng ấy, cô xin dạy học trong một trung tâm sinh ngữ tại Sài Gòn. Cô càng mê hơn nữa. Về lại Úc, cô bèn quyết định học tiếng Việt để sau này có cơ hội quay sang làm việc lâu dài tại Việt Nam. Hỏi lý do, cô cũng đáp như anh sinh viên người Na Uy kể trên: “Người Việt đáng yêu”.

Người Việt đáng yêu như thế nào? Tôi chưa bao giờ có ý định làm một cuộc điều tra thật đàng hoàng về đề tài này. Nhưng từ những gì tôi nghe từ các sinh viên cũng như bạn bè, đồng nghiệp của tôi, những nét đáng yêu nhất của người Việt Nam thường được nêu lên là: vui vẻ, cởi mở và thân thiện.

Tuy nhiên, tất cả những điều kể trên chỉ là một khía cạnh. Có một khía cạnh khác, vì lịch sự, người khác ít nói; và vì tự ái, chúng ta cũng ít khi đề cập: Có vô số người chê người Việt là cục cằn, thô lỗ, ích kỷ, tham lam vặt, hay nói dối vặt, thiếu kỷ luật, thiếu lịch sự, nói chung, là…dễ ghét. Ngay chính những người được xem là “mê” Việt Nam cũng thấy điều đó. Và dĩ nhiên, với tư cách là người Việt Nam, chúng ta cũng thừa biết điều đó.

Thật ra, ở quốc gia nào cũng có những người đáng yêu và những người dễ ghét. Đó là chuyện bình thường. Tuyệt đối không có gì đáng ngạc nhiên cả. Chỉ có vấn đề là: ở nhiều nơi, nét đáng yêu và đáng ghét ở con người chủ yếu là do cá tính, hay nói cách khác, do Trời sinh; còn ở Việt Nam (nói riêng, chứ VN không phải trường hợp duy nhất) chủ yếu do văn hoá. Ở những nơi khác, sự phân bố của những người được xem là đáng yêu và những người bị xem là đáng ghét hoàn toàn có tính ngẫu nhiên; ở Việt Nam thì khác: nó có tính quy luật để theo đó, người ta có thể vẽ lên được một “bản đồ” đáng yêu / đáng ghét của người Việt một cách khá chính xác.

Đại khái “bản đồ” ấy như thế này:

Người Việt rất đáng yêu trong quan hệ cá nhân và ở những nơi quan hệ cá nhân đóng vai trò chủ đạo: gia đình, bàn tiệc, quán nhậu, và hàng xóm. Ở những nơi đó, người Việt, nói chung, rất nhiều tình cảm và tình nghĩa. Và cũng ở những nơi đó, ít ai phàn nàn về người Việt.

Nhưng vượt ra ngoài quan hệ cá nhân thì khác. Bước vào không gian công cộng ở Việt Nam, từ uỷ ban nhân dân đến công an phường, quận, thành phố; từ bưu điện đến bệnh viện; từ bàn hải quan đến văn phòng xuất nhập cảnh, v.v…ở đâu cũng thấy có nhiều người Việt Nam dễ ghét.

Cái dễ ghét ấy có thể được nhìn thấy ngay trên các chuyến bay về Việt Nam: Theo nhận định của nhiều người vốn đi nhiều, ít có tiếp viên hàng không nào dễ ghét như tiếp viên hãng Hàng Không Việt Nam; ít có công an cửa khẩu và nhân viên hải quan nào dễ ghét như những người làm việc tại các sân bay quốc tế tại Việt Nam. Một sinh viên người Úc, rất mê Việt Nam, và vì mê Việt Nam, cuối cùng, lấy vợ Việt Nam. Chính trong thời gian làm đám cưới, phải chạy vạy làm đủ các loại giấy tờ, từ hôn thú đến bảo lãnh vợ sang Úc, anh phờ phạc cả người. Quay về Úc, anh than: Chưa bao giờ anh thấy nhân viên hành chính ở đâu dễ ghét bằng các nhân viên hành chính ở Việt Nam.

Một người bạn khác của tôi, về Việt Nam thăm thân nhân bị bệnh, phải nằm bệnh viện, than: Chưa bao giờ thấy bác sĩ và y tá ở đâu lại dễ ghét như ở Việt Nam. Mặt mày ai cũng hầm hầm hay lạnh tanh. Người ta hỏi gì cũng quát, nạt. Họ chỉ dịu giọng được một lát khi nhận tiền lót tay. Một người bạn khác rất có thiện chí giúp đỡ Việt Nam, nhiều lần tổ chức quyên góp từ quần áo, sách vở đến máy vi tính ở Úc để chuyển về tặng cho người Việt; nhưng sau đó, đâm nản, cuối cùng, bỏ cuộc. Anh nói: “Mình mang quà về giúp, nhưng ở đâu cũng bị làm khó dễ.” Và kết luận: “Người Việt thật dễ ghét!”

Xin lưu ý: những nhân viên các cấp bị xem là dễ ghét trong công sở ấy có thể trở thành cực kỳ dễ thương với bạn bè, người thân hoặc người quen. Một viên công an mặt mày lúc nào cũng lạnh như tiền có thể là một người cởi mở, hào hiệp và hào phóng khi ngồi vào bàn nhậu với bạn bè. Nhưng trong quan hệ công cộng thì họ lại biến thành một người khác hẳn.

Có thể nói gọn lại thế này: Trong quan hệ cá nhân, người Việt thường đáng yêu; nhưng trong quan hệ công cộng, nhất là ở công sở, người Việt thường rất dễ ghét.

Cũng có thể nói một cách khái quát hơn: ở Việt Nam, một số không ít người  cứ hễ có chút quyền lực, người ta liền biến ngay thành người dễ ghét. Bản tính dễ thương đến mấy cũng thành dễ ghét.  Bởi vậy, nhiều người nhận xét: Chơi với người Việt thì vui, nhưng làm việc với người Việt thì đúng là một cực hình. Trên bàn nhậu, ai cũng thông minh, biết điều, cởi mở; nhưng quay lại bàn giấy thì người ta lại khó khăn, tắc trách.

Do đó, vấn đề không phải là bản tính mà là văn hoá.

Bạn có nghĩ vậy không?

  • Bài viết do một bạn đọc gửi đến HNX